Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 563/2024/DS-PT

Ngày: 21-6-2024.

V/v: “Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.

Các Thẩm phán: Ông Trương Việt Hồng.

Bà Nguyễn Thị Minh Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thuỳ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch

Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 21/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2024/TLPT-DS ngày 29/3/2024: “Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; Do bản án dân sự sơ thẩm số 299/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2313/2024/QĐ-PT ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 7410/2024/QĐ-PT ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961
  2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1953

Cùng địa chỉ: Số B Quốc lộ A, Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Gi P, sinh năm 1962; ông Nguyen Loc V (Nguyễn Văn L), sinh năm 1977; Địa chỉ: 2 đường H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 27/8/2020) (có mặt).

2. Bị đơn:

Ngân hàng TMCP K; Địa chỉ: Số A đường B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Ngô Công M1; Địa chỉ: Tầng A, số I T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 1067-02/2021/UQMN-TCB ngày 25/11/2021) (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Đoàn Anh V1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số B đường C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Đại diện nguyên đơn trình bày:

Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP K và Công ty TNHH H1 (Theo Bản án sơ thẩm số 05/2017/KDTM-ST ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh) phía Ngân hàng đã rút yêu cầu khởi kiện về nội dung đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp:

  • Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 6502-01/HĐTC-BĐS/PTR ngày 16/12/2013, thế chấp đối với thửa đất số 515, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541170 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01625) do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007;
  • Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 6502-02/HĐTC-BĐS/TCB ngày 16/12/2013, thế chấp đối với thửa đất số 516, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541179 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01626) do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007;
  • Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 6502-03/HĐTC-BĐS/TCB ngày 16/12/2013, thế chấp đối với thửa đất số 518, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541180 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01624) do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007.

Bản án sơ thẩm số 05/2017/KDTM-ST đã có hiệu lực pháp luật do bà Nguyễn Thiên H vừa là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vừa là đại diện cho Công ty H1 có kháng cáo nhưng Quyết định phúc thẩm số 1143/2017/QĐ-PT ngày 15/12/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đình chỉ xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bản án sơ thẩm chỉ quy trách nhiệm bảo lãnh cho bà Nguyễn Thiên H. Vì vậy, Ngân hàng TMCP K phải giao trả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nguyên đơn đã bảo lãnh thế chấp bằng 3 hợp đồng thế chấp trên:

Ngoài ra giữa các bên không có hợp đồng gửi giữ tài sản nào khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn mới được biết việc bị đơn đã tiến hành bán đấu giá đối với các tài sản của nguyên đơn theo các Hợp đồng thế chấp nói trên để thu hồi nợ. Tuy nhiên, nguyên đơn không tranh chấp với bị đơn về kết quả bán đấu giá, mối quan hệ giữa bị đơn và bên mua trúng đấu giá là ông Nguyễn Đoàn Anh V1, bị đơn phải tự giải quyết để lấy lại các giấy chứng nhận và giao trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn tố cáo Ngân hàng TMCP K vì có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ vụ án này sang Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý trật tự kinh tế và chức vụ - Công an Thành phố H để xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng TMCP K.

Trong vụ án này, nguyên đơn không tranh chấp đối với các hợp đồng thế chấp, chỉ yêu cầu Ngân hàng TMCP K giao trả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541170 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01625): thửa đất số 515, tờ bản đồ số 86;
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541179 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01626); thửa đất số 516, tờ bản đồ số 86;
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541180 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01624); thửa đất số 518, tờ bản đồ 86.

Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007.

2. Đại diện bị đơn trình bày:

Bị đơn xác nhận giữa ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị M và Ngân hàng TMCP K có ký kết các Hợp đồng thế chấp:

  • Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 6502-01/HĐTC-BĐS/PTR ngày 16/12/2013, thế chấp đối với thửa đất số 515, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541170 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01625) do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007;
  • Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 6502-02/HĐTC-BĐS/TCB ngày 16/12/2013, thế chấp đối với thửa đất số 516, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541179 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01626) do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007;
  • Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 6502-03/HĐTC-BĐS/TCB ngày 16/12/2013, thế chấp đối với thửa đất số 518, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541180 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01624) do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007;

Việc thế chấp là để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH H1 vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 6502/HĐHMTD/TCB-PTR ngày 16/12/2013. Tuy nhiên, Công ty TNHH H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP K đã khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã xét xử theo Bản án sơ thẩm số 05/2017/KDTM-ST ngày 10/8/2017 tuyên buộc Công ty TNHH H1 phải trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP K số tiền là 5.628.386.932 đồng.

Trong quá trình giải quyết hồ sơ tranh chấp hợp đồng tín dụng, Ngân hàng xác nhận có rút yêu cầu về nội dung đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo các Hợp đồng nhưng lý do là tài sản đã bán đấu giá để thu hồi nợ và đã có người mua trúng đấu giá là ông Nguyễn Đoàn Anh V1 vào thời điểm 06/01/2017.

Hiện nay 03 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mà nguyên đơn có yêu cầu đòi lại Ngân hàng TMCP K không còn lưu giữ, đã giao cho người mua trúng đấu giá là ông Nguyễn Đoàn Anh V1, sinh năm 1979, địa chỉ: Số B đường C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vì ông V1 là người mua được tài sản bán đấu giá. Do đó đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do Ngân hàng không còn lưu giữ để giao trả. Ngân hàng khẳng định việc ký kết hợp đồng thế chấp và bán đấu giá tài sản được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, giữa Ngân hàng TMCP K và ông B, bà M không ký kết hợp đồng gửi giữ tài sản nào.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đoàn Anh V1:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật: Tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, Giấy triệu tập tham gia xét xử, nhưng ông Nguyễn Đoàn Anh V1 vẫn không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

4. Bản án sơ thẩm số 299/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu bị đơn - Ngân hàng TMCP K phải trả cho nguyên đơn các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 05/9/2023, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M nộp đơn kháng cáo đề nghị theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Ngày 02/11/2023, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bổ sung yêu cầu kháng cáo: đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu Ngân hàng tự huỷ kết quả đấu giá để trả lại các giấy chứng nhận bản chính cho ông B, bà M.

5. Tại phiên toà phúc thẩm:

  • + Nguyên đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm không xem xét Bản án số 05/2017/KDTM-ST ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh vì Bản án này cũng tuyên nghĩa vụ trả nợ và về việc thi hành án. Nhưng việc đấu giá lại diễn ra trước khi Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ban hành bản án này. Trong quá trình giải quyết, Tòa án huyện Bình Chánh và nguyên đơn cũng không hề hay biết việc Ngân hàng đấu giá tài sản.
  • + Bị đơn: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • + Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
    • - Về hình thức: đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M trong thời hạn luật định. Quá trình tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
    • - Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ chứng cứ và có quyết định phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M nộp trong thời hạn, phù hợp quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, bản án sơ thẩm số 299/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Đối với kháng cáo bổ sung của đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Bùi Gi P và ông Nguyễn Văn L về việc yêu cầu ngân hàng tự huỷ kết quả đất giá là vượt quá yêu cầu kháng cáo ban đầu, vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngày 27/8/2020 và ngày 20/01/2021 nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị huỷ án sơ thẩm.

2. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định việc nguyên đơn giao cho bị đơn 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là xuất phát từ việc giao kết là thế chấp tài sản của bên thứ ba nhằm bảo lãnh nghĩa vụ hợp đồng tín dụng của Công ty TNHH H1. Ngân hàng TMCP K không tự chiếm giữ và cũng không có hợp đồng gửi giữ 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007. Những Giấy chứng nhận này chỉ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn đối với tài sản mà nguyên đơn thế chấp bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.

Bản án sơ thẩm số 05/2017/KDTM-ST ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 1143/2017/QĐ.PT ngày 15/12/2017 đã xác định nghĩa vụ của Công ty TNHH H1 với Ngân hàng TMCP K.

Tuy nhiên, trước đó, Ngân hàng TMCP K đã tổ chức đấu giá tài sản đảm bảo thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M là quyền sử dụng 858,8m² thửa đất số 515, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI541170 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01625) do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 20/8/2007; 579m² thửa đất số 516, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541179 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01626) do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 20/8/2007 và 743,1m² thửa đất số 518, tờ bản đồ số 86 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541180 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01624) do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 20/8/2007. Biên bản bán đấu giá thành ngày 26/12/2016.

Cấp sơ thẩm nhận định việc giao trả các giấy chứng nhận phụ thuộc vào các giao kết, thoả thuận tại các Hợp đồng thế chấp. Nguyên đơn chỉ căn cứ vào việc bị đơn rút yêu cầu xử lý tài sản thế chấp khi Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty TNHH H1 và Ngân hàng TMCP K là không có cơ sở chấp nhận là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ là tài liệu chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản thế chấp. Hiện tại tài sản thế thấp đã bị xử lý. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã sang tên cho người trúng đấu giá tài sản, đối tượng khởi kiện không còn. Do đó, yêu cầu khởi kiện đòi giấy chứng nhận của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

3. Về án phí:

đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M đều trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình thức:

Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M.

2. Về nội dung:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 299/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu Ngân hàng TMCP K phải trả cho nguyên đơn các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M ngày 20/8/2007 gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541170 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01625); Giấy chứng nhận QSDĐ số AI 541179 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: số H 01626) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 541180 (số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H01624).

3. Về án phí:

3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2019/0029775 ngày 09/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị M.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thị Điệp

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 563/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 563/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị M khởi kiện tranh chấp đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với Ngân hàng TMCP K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger