Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 562/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Ông Cao Quốc Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 500/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 616/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Trung H, sinh năm: 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 166/23, đường Đ, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Văn Đ (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng H1; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 chị em; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/3/2009, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 89/2009/HSST. Đã nộp án phí. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2010.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Em Trương Văn Đ1, sinh năm 2007 – vắng mặt;
  2. Địa chỉ: Số I, Đường số H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của em Đ1: Luật sư Trần Thị Thu H2, địa chỉ: Số D, đường N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H – có mặt.

  3. Anh Trần Minh T, sinh năm 2002 – vắng mặt;
  4. Địa chỉ: 1, đường N, xã Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Trương Văn T1, sinh năm 1984 – vắng mặt;
  2. Địa chỉ: S, Ấp D, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1995 – vắng mặt;
  4. Địa chỉ: A H, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

  5. Chị Trần Thị T2, sinh năm 1976 – vắng mặt;
  6. Địa chỉ: C X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Trung H không có nghề nghiệp và không nơi ở nhất định nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 20 giờ ngày 28/10/2023, H đi bộ đến khách sạn P, địa chỉ: số H đường T, phường P, thành phố T làm quen với bảo vệ của khách sạn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H thấy em Trương Văn Đ1 (sinh ngày 26/11/2007) dắt xe mô tô biển số 54S8-1444 từ trong khách sạn ra thì H đến gần và xin đi nhờ xe thì em Đ1 đồng ý. H nói em Đ1 chạy đến đường số G phường H, sau đó sang đường Q rồi chạy đến đường L, sau đó qua đường song hành Xa lộ H. Khi đến hẻm H thì H nói em Đ1 rẽ vào để H tìm người nhà. Em Đ1 chạy tiếp khoảng 100m thì H nói dừng xe để người nhà ra đón H. Lúc này, H hỏi mượn điện thoại của em Đ1 để gọi cho người nhà, nên em Đ1 tin tưởng cho H mượn điện thoại Oppo A57. H cầm điện thoại của em Đ1 giả vờ bấm số nhưng không gọi cho ai. Sau đó H tiến lại gần xe của em Đ1, em Đ1 nghi ngờ, tiến gần lại xe để rút chìa khóa xe nhưng H lấy bật lửa mang sẵn trong người đe dọa đòi đâm em Đ1 nên em Đ1 không dám đến gần. Lúc này, H lấy điện thoại di động hiệu Oppo A57 và xe mô tô biển số 54S8-1444 chạy về huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, H đến tiệm mua bán điện thoại di động tại địa chỉ C, đường X, phường B, quận B bán chiếc điện thoại trên cho chị Trần Thị Trọng G 1.000.000 đồng. Chị T2 không biết tài sản trên do phạm tội mà có. Chị T2 đã nộp lại điện thoại trên cho cơ quan điều tra (BL 64). Sau đó, H mang xe cướp được của em Đ1 đến huyện B rồi nhờ bạn tên Trương Văn T1 bán dùm để mua thuốc trị bệnh chân do lúc này 02 chân của H bị đau không đi được. Anh T1 hỏi H xe của ai thì H nói xe của nhà H và giấy tờ xe để ở nhà. Anh T1 thấy H nhờ bán xe nhưng không có giấy tờ, hiện tại H không có tiền trị bệnh chân nên anh T1 mang xe đi cất và đưa H 3.000.000 đồng rồi nói đã bán xe giúp H. Thực ra anh T1 không dám bán xe giúp H do sợ sau này người nhà của H muốn lấy lại xe thì anh T1 không trả lại được xe, nên nói dối H là đã bán xe giúp H. Sau khi nhận tiền 3.000.000 đồng thì

H cho tiền anh T1 nhưng anh T1 không nhận. Khi hay tin H bị bắt thì anh T1 mang xe đến giao nộp cho cơ quan điều tra.

Trước đó H còn thực hiện 01 vụ cướp tài sản khác như sau: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 17/10/2023, anh Trần Minh T là sinh viên (làm thêm nghề shipper) đang đi giao đồ cho khách hàng ở số C, đường số E, phường L, thành phố T thì H đi bộ đến nói anh T chở đến ngã tư T. Trên đường đi, H nói cần đến hẻm H đường X, phường H, thành phố T. Khi đi đến nhà xe P1 số 850/4 đường X, khu phố C, phường H, thành phố T thì H lấy cây kéo mang theo sẵn từ trước đưa vào hông anh T và nói anh T “chạy đi”. Anh T chạy tiếp khoảng 50 m thì H nói anh T dừng xe để H xuống xe, H cầm kéo đưa vào cổ anh T và nói đưa tiền cho H. Vừa nói xong thì H đưa tay vào túi đeo chéo trước ngực của anh T lấy chiếc ví có tiền 6.000.000 đồng và giấy tờ của anh T để vào túi quần bên phải của H. Tiếp tục H lấy điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K30 của anh T rồi nói anh T mày biến đi. Anh T hoảng sợ bỏ chạy, H mang điện thoại chiếm đoạt của anh T đến cửa hàng điện thoại di động Phúc M tại địa chỉ số A H, Phường I, Quận D bán cho anh Nguyễn Văn L giá 1.200.000 đồng. Khi mua điện thoại trên, anh L không biết tài sản phạm tội mà có. Anh L đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra.

Sau đó H đến gặp bạn tên Trần Xuân H3 và lấy ví cướp được của anh T cùng giấy tờ tùy thân ra, anh H3 thấy giấy tờ tùy thân không phải tên H nên anh H3 hỏi thì H nói đã lấy của một nam sinh viên (T) và không nói rõ lấy tài sản gì. Sau đó thì H ra về và để quên chiếc ví cùng giấy tờ tùy thân của anh T ở chỗ anh H3. Anh H3 kiểm tra thì phát hiện có 02 sim điện thoại trong ví nên gắn 01 sim điện thoại vào điện thoại của anh H3. Sau đó, anh T gọi điện vào số sim anh H3 đã gắn vào điện thoại thì biết chiếc ví và giấy tờ là của anh T, nên anh H3 nói anh T đặt xe grap đến chỗ anh H3 và anh H3 đã trả lại toàn bộ ví cùng giấy tờ cho anh T, anh H3 không có yêu cầu hưởng bất cứ lợi ích gì.

Qua truy xét, ngày 02/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T mời Trần Trung H làm việc. tại Cơ quan điều tra, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá số 118-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố T: điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K30 có giá trị 2.050.000 đồng.

Kết luận định giá số 119-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố T kết luận: xe mô tô biển số 54S8-1444 có giá trị 8.267.000 đồng, điện thoại di động Oppo A57 có giá trị 2.900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 11.167.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Số tiền 6.000.000 Việt Nam đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K30.
  • - 01 xe mô tô biển số 54S8-1444.

Qua xác minh, xe mô tô biển số 54S8-1444 do anh Lê Tất T3 đứng tên chủ sở hữu. Anh T3 đứng tên giúp cho cháu tên Nguyễn Văn Đ2 và anh Đ2 cho em Đ1 mượn xe thì bị H cướp như trên. Cơ quan Điều tra đã trả xe trên lại cho em Đ1.

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Minh T nhận lại điện thoại di động Xiaomi Redmi K30 cùng giấy tờ tùy thân, em Trương Văn Đ1 nhận lại điện thoại di động hiệu Oppo A57 và xe mô tô biển số 54S8-1444, không yêu cầu bồi thường số tiền bị cướp.

Anh Nguyễn Văn L đồng ý giao nộp lại 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K30, chị Trần Thị T2 đồng ý giao nộp 01 điện thoại Oppo A57, anh Trương Văn T1 đồng ý giao nộp 01 xe mô tô biển số 54S8-1444. Anh L, chị T2, anh T1 đều không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Cáo trạng số: 472/CT-VKSTPTĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Trung H về tội “Cướp tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung H từ 8 năm 06 tháng đến 9 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2023.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật sư Trần Thị Thu H2- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại – em Trương Văn Đ1 trình bày: Bà thống nhất với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố, hành vi phạm tội của bị cáo cũng đã được làm rõ trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay. Em Đ1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hịa nhưng, việc bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản đối với em Đ1 (sinh năm 2007), khiến em Đ1 bị tổn thương tâm lý, ảnh hưởng đến quá trình làm việc của em Đ1 do bị mất tài sản là phương tiện đi lại và điện thoại dùng để liên lạc. Bị cáo phạm tội nhiều lần, cùng một phương thức, thủ đoạn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc tuyên mức hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận giám định và không tranh luận. Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định:

Vào lúc 20 giờ ngày 17/10/2023, Trần Trung H có hành vi đe dọa dùng kéo đâm anh Trần Minh T để chiếm đoạt của anh T 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K30 và số tiền 6.000.000 đồng cùng giấy tờ tùy thân, tại địa chỉ 8 X Hà Nội, khu phố F, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt của anh T là 8.050.000 đồng.

Vào lúc 20 giờ ngày 28/10/2024, Trần Trung H có hành vi dùng bật lửa (H lừa em Đ1 là có dao) đe dọa đâm em Trương Văn Đ1 để chiếm đoạt 01 điện thoại di động Oppo A57 và 01 xe mô tô biển số 54S8-1444, tại hẻm H, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt của em Đ1 là 11.167.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi dùng vũ lực tấn công người khác để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý thực hiện hành vi như đã nêu trên. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 19.217.000 đồng, bị cáo sử dụng vũ khí, phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:

Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số tiền 6.000.000 Việt Nam đồng Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 và 01 xe mô tô biển số 54S8-1444 là các tài sản hợp pháp của em Trương Văn Đ1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho em Đ1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi K30 là tài sản hợp pháp của anh Trần Minh T4 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh T4 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị và lập luận của của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Trung H phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung H: 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2023.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
    • - Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Hồ Chí Minh
  • Phòng PV06, PC10 - Công an
  • Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 562/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 562/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRAN TRUNG H-CƯỚP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger