|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 562/2024/DS-PT Ngày: 25-11-2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
- Bà Trần Thị Kim Sang;
- Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 630/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 28-8-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 615/2024/QĐ- PT ngày 08 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1966; nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1950; nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- 3.2. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1963: nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- 3.3. Anh Bùi Khánh P1, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Ngô Văn Đ và bà Phạm Thị N kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, ông Ngô Văn T trình bày: Ông và ông Ngô Văn Đ là anh em ruột với nhau. Cha mẹ chung là cụ Ngô Văn T1 và cụ Nguyễn Thị P2 chết cùng năm 2003, cụ T1 và cụ P2 chung sống có 08 người con chung gồm: Ngô Thị K chết năm 2021, Ngô Thị R, Ngô Văn Đ, Ngô Thị Đ1, Ngô Thị L, Ngô Văn Đ2, Ngô Văn X, Ngô Văn T. Cụ T1 và cụ P2 có tạo lập được tài sản chung gồm các phần đất diện tích, cụ thể: Phần đất diện tích khoảng 10.000 m² tại ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh và phần đất diện tích khoảng 10.800 m² tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, cụ T1 và cụ P2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc cụ T1 và cụ P2 còn sống có phân chia đất cho các con bằng lời nói, không lập thành văn bản, cụ thể gồm:
- Ông Ngô Văn Đ diện tích đất đồng khoảng 2.500 m² tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, hiện đang tranh chấp và diện tích đất đồng khoảng 2.500 m² + 2.000 m² đất ruộng + 06 mét ngang đất xây dựng nhà ở tại ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Ngô Văn Đ2 diện tích đất đồng khoảng 2.500 m² tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh và diện tích đất đồng khoảng 2.500 m² + 2.000 m² đất ruộng + 06 mét ngang đất xây dựng nhà ở tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Ngô Văn X diện tích đất đồng khoảng 2.500 m² tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh và diện tích đất ruộng khoảng 2.000 m² + 06 mét ngang đất xây dựng nhà ở tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Ngô Thị K, bà Ngô Thị R, bà Ngô Thị Đ1 và bà Ngô Thị L mỗi người được chia khoảng 1.000 m² đất đồng tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh và diện tích khoảng 1.000 m² đất ruộng + 06 mét ngang đất xây dựng nhà ở tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, sau khi được chia đất thì các anh chị em ông tự đi đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến năm 2000, lúc cụ T1 và cụ P2 còn sống, ông sống chung với cụ T1, cụ P2, lúc này cụ T1 và cụ P2 cùng các con thỏa thuận bằng lời nói để chia đất lại. Trong đó, giữa ông và ông Đ có thỏa thuận đồng ý là ông đổi cho ông Đ nhận phần đất diện tích khoảng 2.500 m² mà ông được cụ T1, cụ P2 chia tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để ông nhận phần đất diện tích khoảng 2.500 m² mà ông Đ được cụ T1, cụ P2 chia tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, bởi vì phần đất của ông đồng ý đổi cho ông Đ tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh liền cư với phần đất mà ông Đ được cụ T1, cụ P2 chia diện tích khoảng 2.500 m², hiện nay ông Đ đã đứng tên hai phần đất này. Do ông và ông Đ có đổi đất với nhau, nên phần đất tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh ông đã quản lý sử dụng trồng thuốc lá, đậu từ năm 2000 và đến đầu năm 2003 thì ông trồng nhãn và quản lý sử dụng cho đến nay, không có ai ngăn cản hay tranh chấp gì.
Tại thời điểm hai bên đổi đất vào năm 2000, thì ông chưa đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất, đến năm 2002, ông phát hiện ông Đ đăng ký, kê khai và được cấp giấy đất, nên ông có gặp ông Đ để nói chuyện về việc đã đổi đất, ông Đ nói để suy nghĩ lại, sau này ông gặp ông Đ nhiều lần nhưng ông Đ không đồng ý trả lại đất này, nên xảy ra tranh chấp cho đến nay. Trên đất tranh chấp có mồ mả cha ông là cụ T1, cụ P2 và mồ mả trong thân tộc.
Ông thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không yêu cầu xem xét thẩm định giá lại.
Nay ông yêu cầu ông Đ phải thực hiện việc đổi đất giữa ông và ông Đ vào năm 2000, công nhận cho ông được quyền quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế là 2.670,8 m² thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02826 QSDĐ/216/2002/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Đ đứng tên ngày 03-10-2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời ông không đồng ý trả lại phần đất trên theo yêu cầu phản tố của ông Đ.
Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ và buộc ông trả phần đất tranh chấp cho ông Đ, thì ông yêu cầu ông Đ phải thanh toán giá trị 127 cây nhãn trên đất theo kết quả định giá. Đối với diện tích đất chênh lệch 11,6 m² và 117,6 m² ông không có tranh chấp, ông thống nhất theo mốc giới đất sử dụng thực tế. Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Ngô Văn Đ là anh Diệp Văn C trình bày: Vào năm 1985, lúc cha mẹ ông Đ còn sống có chia đất cho các con, trong đó các phần đất mà ông Đ được chia gồm: Phần đất ruộng diện tích khoảng 2.500m² và đất thổ cư diện tích khoảng 1.000 m² để xây dựng nhà ở tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, cùng với diện tích đất đồng diện tích khoảng 2.800m² tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, phần của ai được chia thì đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài các phần đất đã chia cho các con thì cụ T1 và cụ P2 vẫn còn đất.
Đến năm 2003, sau khi cụ T1, cụ P2 chết thì các anh chị em trong gia đình ông Đ có thỏa thuận phân chia thừa kế diện tích đất còn lại, trừ các phần đất mà cụ T1, cụ P2 đã phân chia cho các con lúc còn sống, cụ thể: Mỗi người được chia 06 mét ngang x dài hết đất, riêng ông T được chia 10 mét ngang, còn lại phần đất phía sau các anh em thống nhất chia cho ông Đ, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh và phân chia thừa kế phần đất còn lại tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, mỗi người chị em gái được chia diện tích 1.000 m² đất đồng, đã cắm cọc ranh đất, nhưng ông T không đồng ý giao đất mà nói phải bênh vực ông T thắng kiện với ông Đ thì ông T mới chịu giao đất cho những người này.
Việc cho đất khi cha mẹ ông Đ còn sống chỉ cho bằng lời nói, không có giấy tờ gì và các anh em ông Đ tự đi đăng ký, kê khai đứng tên giấy đất và sau khi cụ T1, cụ P2 chết thì các anh chị em của ông Đ thỏa thuận chia thừa kế đất của cha mẹ còn lại có giấy tờ rõ ràng .
Ông T cho rằng năm 2000 có thỏa thuận đổi phần đất tranh chấp với ông Đ là không đúng, không có việc thỏa thuận đổi phần đất của ông Đ tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh để ông Đ lấy phần đất của ông T tại ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh, vì phần đất tại ấp T, xã T, huyện D là cha mẹ ông Đ cho ông Đ khi còn sống. Đồng thời ông T cũng được cha mẹ cho đất tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh như ông Đ trình bày.
Việc ông T trình bày vào năm 2013, mới phát hiện ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng, bởi vì ông T biết ông Đ được cấp giấy đất vào năm 2002, nhưng không có tranh chấp. Ông T mượn đất của ông Đ để sản xuất từ năm 2003 cho đến nay, nhưng nay ông T cho rằng đây là đất của ông T là không đúng. Việc thỏa thuận mượn đất giữa ông T và ông Đ vào năm 2003, không có giấy tờ gì, không thỏa thuận thời hạn trả lại đất, do là anh em ruột với nhau, khi nào ông Đ cần sử dụng đất thì lấy lại, lúc đầu ông T trồng hoa màu trên đất, đến khoảng năm 2008 thì ông T mới bắt đầu trồng nhãn, không phải trồng năm 2003 như ông T trình bày.
Năm 2013, ông Đ có đơn yêu cầu UBND xã H giải quyết yêu cầu ông Trương trả lại đất, lúc này ông T có đến gặp ông Đ để thương lượng với ông Đ để ông T tiếp tục mượn đất để sản xuất thêm thời gian sẽ trả đất lại cho ông Đ, nên ông Đ đồng ý cho ông T mượn đất để sản xuất tiếp và ông T đã khởi kiện. Việc đổi đất theo ông T trình bày là không đúng, do ông T không xác định được vị trí đất mà ông T đã đổi cho ông Đ. Đối với phần đất mà ông T cho rằng đã đổi với ông Đ theo văn bản sau này mà ông Đ đã cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng, vì đất này ông Đ được cụ T1, cụ P2 cho lúc còn sống và ông Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 đến nay.
Ông Đ thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không yêu cầu xem xét thẩm định giá lại.
Nay ông Đ không đồng ý theo yêu cầu của ông T và ông Đ có yêu cầu phản tố yêu cầu ông T phải trả lại cho ông Đ phần đang quản lý sử dụng diện tích thực tế là 2.670,8 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đ đứng tên năm 2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, cả diện tích đất chênh lệch 117,6 m² ông T không sử dụng. Ngoài ra, ông Đ không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị P trình bày: Bà là vợ ông T, bà thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông T. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N trình bày: Bà là vợ ông Đ, bà thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông Đ. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Khánh P1 trình bày: Đối với diện tích đất chênh lệch 11,6 m² thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 6, do ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng hiện anh đang quản lý sử dụng. Nay anh thống nhất theo mốc giới đất thực tế đang sử dụng, không có tranh chấp trong vụ án. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác và xin vắng mặt.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 28/8/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, quyết định.
Căn cứ Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 500 Bộ luật Dân sự; Điều 166, 167, 170 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T đối với ông Ngô Văn Đ về “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”.
- 1.1. Ông Ngô Văn T được quyền sử dụng phần đất diện tích thực tế 2.670,8 m² (loại đất HNK) thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005), tứ cận: Đông giáp phần đất còn lại của thửa số 279 dài 7,93m + 12m +13,25m + 25,04m; Tây giáp phần đất còn lại của thửa số 06 (bản đồ 2005) dàu 61,81m; Nam giáp thừa số 278 (bản đồ 299) dài 27,53m + 19m; Bắc giáp thửa số 41 dài 27,61m + 18,63m, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02826 QSDĐ/216/2002/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Trong đó có diện tích 1.086,6 m² quy hoạch lộ giới.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn Đ yêu cầu ông Ngô Văn T trả lại phần đất diện tích thực tế 2.670,8 m².
3. Ghi nhận anh Bùi Khánh P1 không yêu cầu giải quyết đối với diện tích đất chênh lệch 11,6 m² thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, hiện anh P1 đang quản lý sử dụng.
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất thực tế 2.670,8 m² (loại đất HNK) thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02826 QSDĐ/216/2002/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, cho ông T đứng tên theo quy định pháp luật. Trong đó có diện tích 1.086,6 m² quy hoạch lộ giới.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10-9-2024, ông Đ, bà N có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của ông T. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Vế tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến khi vào nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Đ bà N. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 28/8/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Ngô Văn Đ và bà Phạm Thị N kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Đ, bà N thì thấy rằng: Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 2.670,8 m² (loại đất HNK) thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02826 QSDĐ/216/2002/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Nguồn gốc đất tranh chấp là của Ngô Văn T1, sinh năm 1917(chết năm 20023 và cụ Nguyễn Thị P2, sinh năm 1922 (chết năm 2003). Cụ T1 và cụ P2 có 08 người con. Bà Ngô Thị K, Ngô Thị R, ông Ngô Văn Đ2, ông Ngô Văn Đ, bà Ngô Thị Đ3, ông Ngô Văn X, ông Ngô Văn T, bà Ngô Thị L. Ông T cho rằng cha mẹ ông có khai phá đất ở xã T và xã H. Đất tại xã T các anh em trai của ông gồm: Ông Đ2, ông X, ông Đ, ông được chia mỗi người 2.500 m² đất đồng, 2.000 m² đất ruộng, đất thổ cư mỗi người 6,0 m ngang. Còn các chị em gái gồm bà R, bà K, bà Đ3, bà L được chia 1.000 m² đất đồng, 1.000 m² đất ruộng, đất thổ cư mỗi người 6,0 m. Đất ở xã H: các anh em trai mỗi người được chia 2.500 m² đất đồng. Còn các chị em gái mỗi người 1.000 m².
[2.3] Theo ông T cho rằng, vào năm 2000, lúc cụ T1 và cụ P2 còn sống có chia đất lại cho các con. Ông T được chia phần đất tại ấp T, xã T, Huyện D; còn ông Đ được chia phần đất diện tích 2.800m² đang tranh chấp và giữa ông T và ông Đ đồng ý đổi đất với nhau, ông T nhận phần đất diện tích 2.800m² đang tranh chấp, ông Đ nhận phần đất tại ấp T, xã T, huyện D. Đến năm 2002 thì ông Đ tự kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên xảy ra tranh chấp.
[2.4] Theo ông Đ cho rằng, phần đất đang tranh chấp ông Đ được cụ T1, cụ P2 chia từ năm 1985, đến năm 2002 ông Đ kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dụng đất. Năm 2003 thì ông Đ có cho ông T mượn phần đất diện tích 2.800m² đang tranh chấp để sản xuất, không lập thành văn bản, không thỏa thuận thời hạn trả lại đất do là anh em ruột với nhau, nay ông Đ cần sử dụng đất nên yêu cầu ông T trả lại đất, nhưng ông T không đồng ý, nên xảy ra tranh chấp.
[2.5] Căn tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và hồ sơ địa chính, kết quả xác minh, bản tường trình: Bà Ngô Thị L, ông Ngô Văn X, ông Ngô Văn Đ2, bà Ngô Thị Đ3, bà Ngô Thị R, bà Ngô Thị K (bút lục từ 92 đến 97,208) xác định. Việc đổi đất giữa ông T và ông Đ đối với phần đất tranh chấp diện tích thực tế 2.670,8 m² là có thật. Do trước đó cụ T1 và cụ P2 có chia đất cho 04 người con trai là ông Ngô Văn Đ, ông Ngô Văn Đ2, ông Ngô Văn X, ông Ngô Văn T, tại thời điểm cụ T1 và cụ P2 chia đất không qua đo đạc thực tế, sau đó có đo đạc lại các phần đất được chia thì phần đất ông Đ2 được chia thừa diện tích 1.300 m² nên ông Đ2 trả lại cho cụ T1, cụ P2; ông Đ được chia 02 phần đất sản xuất, trong đó có diện tích 2.800 m² (đang tranh chấp) và diện tích đất 2.300 m² xây dựng nhà ở. Ông Đ nhận diện tích 2.300 m², giao lại cho ông T 2.800 m² (đang tranh chấp) ông T quản lý, sử dụng trồng 127 cây nhãn cho đến nay. Do năm 2000, ông Đ giao lại cho ông T diện tích 2.800 m² (đang tranh chấp) nên cụ T1, cụ P2 chết năm 2003 ông T chôn trên đất tranh chấp, sau đó ông T lấy cốt cụ Ngô Văn Đ4, cụ Lê Thị Ngọc V chôn trên đất. Năm 2004, ông Nguyễn Văn B (chết) bà K vợ ông B hỏi xin đất ông T để chôn ông B. Ông T sử dụng từ năm 2000, đến năm 2002 ông Đ tự kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 đối với phần đất tranh chấp diện tích 2.800 m² hiện ông T đang quản lý sử dụng là không đúng với khoản 1 Điều 100 của luật đất đai. Mặt khác ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2002, nhưng ông được không đòi lại đất, cũng không có tranh chấp gì, lúc ông T trồng nhãn là cây lâu năm trên đất thì ông Đ cũng không có ngăn cản, nên không có việc ông Đ cho ông T mượn đất để sản xuất là không có cơ sở. Ông T là người trực tiếp quản lý sử dụng đất cho đến nay đã ổn định hơn 20 năm. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T. Ông T, bà P tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích thực tế 2.670,8 m² là phù hợp theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đ yêu cầu ông T trả lại phần đất diện tích thực tế 2.670,8 m², là có căn cứ. Ông được kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Đ. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 28/8/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đ, bà N là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 500 Bộ luật Dân sự; Điều 166, 167, 170 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Ngô Văn Đ.
- Giữ nguyên bản dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 28/8/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T đối với ông Ngô Văn Đ về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Ông Ngô Văn T được quyền sử dụng phần đất diện tích thực tế 2.670,8 m² (loại đất HNK) thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005), tứ cận: Đông giáp phần đất còn lại của thửa số 279 dài 7,93m + 12m +13,25m + 25,04m; Tây giáp phần đất còn lại của thửa số 06 (bản đồ 2005) dài 61,81m; Nam giáp thửa số 278 (bản đồ 299) dài 27,53m + 19m; Bắc giáp thửa số 41 dài 27,61m + 18,63m, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02826 QSDĐ/216/2002/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Trong đó có diện tích 1.086,6 m² quy hoạch lộ giới.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn Đ yêu cầu ông Ngô Văn T trả lại phần đất diện tích thực tế 2.670,8 m².
- Ghi nhận anh Bùi Khánh P1 không yêu cầu giải quyết đối với diện tích đất chênh lệch 11,6 m² thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, hiện anh P1 đang quản lý sử dụng.
- Không đặt ra giải quyết đối với diện tích 117,6 m² là mương nước, hiện do Ủy ban nhân dân xã H đang quản lý, không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002.
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích đất thực tế 2.670,8 m² (loại đất HNK) thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần thửa số 06, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 2005), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02826 QSDĐ/216/2002/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho ông Ngô Văn Đ đứng tên ngày 03-10-2002, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh, cho ông T đứng tên theo quy định pháp luật. Trong đó có diện tích 1.086,6 m² quy hoạch lộ giới.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Ngô Văn Đ, bà Phạm Thị N phải chịu 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Ghi nhận ông T đã nộp số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.
Buộc ông Ngô Văn Đ, bà Phạm Thị N phải nộp số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng để hoàn trả lại cho ông T.
- Về án phí:
- 9.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Văn Đ, bà Phạm Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Ngô V1 số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024929 ngày 21-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- 9.2. Án phí phúc thẩm: Ông Ngô Văn Đ, bà Phạm Thị N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- 9.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Văn Đ, bà Phạm Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Vân |
Bản án số 562/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 562/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
