|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 562/2024/DS-PT Ngày: 23 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 441/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2180/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T; địa chỉ: tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lưu Thị K; địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Bích V – Vắng mặt.
- Ông Phạm Thành H – Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Thị D; địa chỉ: tổ F, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (văn bản ủy quyền ngày 13-8-2020).
Cùng địa chỉ: tổ A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- 3.3. Ông Hoàng Thanh A – Vắng mặt.
- 3.4. Bà Nguyễn Thị Quý T1 – Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số A đường Y, tổ D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- 3.5. Bà Lê Thị L; địa chỉ: tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- 3.6. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Vân A1 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đ (văn bản ngày 20-7-2020); Có mặt.
- 3.7. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Tiến L1 - Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ (văn bản ủy quyền ngày 27-01-2021); Có mặt.
- 3.8. Ngân hàng N – Chi nhánh tỉnh Đ;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Châu L2 – Trưởng phòng khách hàng hộ sản xuất và cá nhân (văn bản ủy quyền ngày 06-7-2022); Có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Chí T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn và đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Chí T trình bày:
Khoảng năm 2002, ông T khai hoang 01 lô đất rẫy diện tích khoảng 5,8ha tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Lô đất có tứ cận: Phía đông giáp đường be dài 180m, phía tây giáp đất bà H1, ông K1, suối dài khoảng hơn 200m, phía nam giáp đất ông K2 dài khoảng 300m, phía bắc giáp đất của bà H1 và ông T2 dài khoảng 200m. Quá trình sử dụng, ông T phát hiện bà Lưu Thị K tự ý kê khai. Ngày 29-5-2012, bà K được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 932929 đối với thửa đất 263, tờ bản đồ trích đo, diện tích 101.948m². Sau khi phát hiện sự việc, ông T đã khởi kiện vụ án hành chính, Tòa án thụ lý vụ án số 02/2015/TLST-HC ngày 30-11-2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T và bà K thỏa thuận, bà K được sử dụng thửa đất trên và trả cho ông T 600.000.000 đồng vào ngày 16-11-2016 nếu bà K không trả được tiền thì ông T lấy lại đất. Sau khi thỏa thuận, ông T rút đơn khởi kiện, Tòa án ra Quyết định đình chỉ số 02/2016/QĐĐST-HC ngày 15-8-2016. Ngày 06-9-2016, bà K chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Bích V nhưng không có ý kiến của ông T, sau đó ông T yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng bà K không
thực hiện. Lô đất này bà V chuyển nhượng lại cho ông Hoàng Thanh A, ông A thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng N - CHI NHÁNH TỈNH Đ. Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 932929 do UBND huyện Đ cấp cho bà Lưu Thị K ngày 29-5-2012 đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, diện tích 101.948m² tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hủy thông tin pháp lý về việc điều chỉnh thông tin tại trang số 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 5,8ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263.
- Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 06-9-2016 giữa bà Lưu Thị K và bà Nguyễn Thị Bích V đối với diện tích 5,8 ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 21-11-2016 giữa bà Nguyễn Thị Bích V, ông Phạm Thành H với ông Hoàng Thanh A đối với diện tích 5,8ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 60/HĐTC-T.AN ngày 24-11-2016 giữa ông Hoàng Thanh A và Ngân hàng N – Chi nhánh tỉnh Đ đối với 5,8ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Buộc bà Lưu Thị K, ông Hoàng Thanh A phải trả lại cho nguyên đơn diện tích khoảng 5,8ha (diện tích cụ thể theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ) trong diện tích 101.948m² thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Tại phần thủ tục hỏi, ông T đề nghị Tòa án buộc bà Lưu Thị K trả lại diện tích đất 4,7ha trong diện tích 101.948m².
* Bị đơn Lưu Thị K không chấp hành, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng bà K không tham gia. Đối với người đại diện theo ủy quyền của bà K là ông Phương Ngọc D1 trình bày:
Ngày 25-12-2020, bà Lưu Thị K ủy quyền cho ông D1. Ngày 31-12-2020, ông D1 bị Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông bắt tạm giam nên không thể đại diện cho bà Lưu Thị K đến làm việc tại Tòa án. Sau khi chấp hành xong bản án, ông D1 liên hệ với bà Lưu Thị K nhưng không được, ông D1 chấm dứt ủy
quyền. Tòa án triệu tập bà K nhưng vắng mặt không lý do nên hồ sơ không thể hiện quan điểm của bị đơn.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến:
+ Đại diện UBND huyện Đ trình bày: Ngày 10-12-2011, bà Lưu Thị K xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo thuộc thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, đồng thời ra Thông báo số 105/TB-UBND về việc công khai hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, đến ngày 12-01-2012 ra Thông báo kết thúc công khai hồ sơ và ban hành Tờ trình số 05/TTr-UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 19-3-2012, Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận vào đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 23-5-2012, PHÒNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HUYỆN Đ có Tờ trình số 74/TTr-TNMT đề nghị cấp GCNQSDĐ. Ngày 29-5-2012, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 1394/QĐ-UBND cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG932929 cho bà Lưu Thị K.
Đối với hồ sơ pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Sau khi kiểm tra hồ sơ và người sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ tài chính, Chi nhánh Văn phòng Đ điều chỉnh thông tin người sử dụng đất theo hợp đồng chuyển nhượng tại trang 4 GCNQSDĐ. Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số BG 932929 của nguyên đơn, UBND huyện Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
+ Đại diện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông, ông Đỗ Tiến L1 trình bày: Trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lưu Thị K với bà Nguyễn Thị Bích V và hồ sơ chuyển nhượng giữa bà Nguyễn Thị Bích V với ông Hoàng Thanh A được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.
+ Đại diện Ngân hàng N – CHI NHÁNH TỈNH Đ trình bày: Ngày 15-7-2017, ông Hoàng Thanh A và bà Nguyễn Thị Quý T1 vay vốn tại A2 CHI NHÁNH TỈNH Đ theo 02 hợp đồng tín dụng: 5300-LAV-201701347 vay 1.000.000.000 đồng; 5300-LAV-201701348 vay 1.000.000.000 đồng. Để đảm bảo 02 hợp đồng trên ông A và bà T1 thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 951962 và BG 932929 theo hợp đồng thế chấp số 607/HĐTC-T.An ngày 24-11-2016. Các hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Hiện nay, ông A và bà T1 chưa thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong yêu cầu trả số tiền nợ, trường hợp không trả được tiền thì Ngân hàng có quyền phát
mãi tài sản bảo đảm để thi hành án, hiện vụ án đang được Tòa án thụ lý giải quyết. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng không đồng ý.
+ Bà Nguyễn Thị Bích V trình bày: Bà V và chồng Phạm Thành H có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 932929 do UBND huyện Đ cấp ngày 29-5-2012 từ bà Lưu Thị K, bà đã được sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, bà thỏa thuận với bà K, ông Hoàng Thanh A chuyển nhượng lại cho ông Hoàng Thanh A đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ông Hoàng Thanh A vay tiền, vì bà V có nợ xấu tại ngân hàng. Đối với tranh chấp giữa ông T và bà K thì bà V biết trước khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà V đã thỏa thuận, thanh toán cho ông T 300.000.000 đồng để ông T rút đơn khởi kiện, sau đó bà V thực hiện thủ tục chuyển nhượng thửa đất từ bà K. Do hiện nay bà V đang bị giam nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
+ Ông Phạm Thành H trình bày: ông và vợ Nguyễn Thị Bích V có nhận chuyển nhượng thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 932929 do UBND huyện Đ cấp ngày 29-5-2012 từ bà Lưu Thị K, việc chuyển nhượng đã hoàn thành. Sau khi chuyển nhượng ông ủy quyền cho vợ toàn quyền thay mặt ông trong việc chuyển nhượng, thế chấp thửa đất. Từ khi ủy quyền, ông không biết các thông tin liên quan đến thửa đất. Đối với tranh chấp giữa ông T và bà K, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
+ Đối với ông Hoàng Thanh A và bà Nguyễn Thị Quý T1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhưng ông A và bà T1 không đến tòa án để làm việc nên không ghi nhận được ý kiến.
+ Bà Lê Thị L trình bày: Cơ bản thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Chí T và thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng các điều 105, 106 Luật đất đai năm 2003, các điều 100, 101, 105, 167, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 70, Điều 82 Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; Điều 11 Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19-5-2014 và Điều 8 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29-9-
2017 của Bộ T6; Điều 26, 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T đối với các yêu cầu: Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06-9-2016 giữa bà Lưu Thị K và bà Nguyễn Thị Bích V đối với diện tích 5,8 ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất nêu trên thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21-11-2016 giữa và Nguyễn Thị Bích V, ông Phạm Thành H với ông Hoàng Thanh A đối với diện tích 5,8ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 60/HĐTC-T.AN ngày 24-11-2016 giữa ông Hoàng Thanh A và Ngân hàng N – Chi nhánh tỉnh Đ đối với 5,8ha đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, tọa lạc tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Buộc bà Lưu Thị K, ông Hoàng Thanh A phải trả lại cho nguyên đơn diện tích khoảng 5,8ha trong diện tích 101.948m² thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo thuộc thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 932929 do UBND huyện Đ cấp cho bà Lưu Thị K ngày 29/5/2012 đối với thửa đất số 263, tờ bản đồ trích đo, diện tích 1010.948m² tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hủy điều chỉnh thông tin pháp lý về việc điều chỉnh thông tin tại trang số 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 14/3/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Chí T kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là không đúng.
Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của phía bị đơn:
Tòa án cấp phúc thẩm đã tống đạt hợp lệ nhiều lần (04 lần), nhưng phía bị đơn bà Lưu Thị K vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt theo luật định.
[1.2] Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập thể hiện: Tại “Biên bản xác minh” vào ngày 03/04/2014 (bút lục số 112) do Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong tiến hành đã thể hiện như sau: Tại nội dung biên bản xác minh, ông K3 Phó Giám đốc Xí nghiệp L5 và ông Nguyễn Trí Đ – Cán bộ Kỹ thuật Xí nghiệp L5 cho biết: Đối với diện tích đất tranh chấp (6.1138 m²) đều nằm trong khoảnh 3, tiểu khu A. Sau khi đối chiếu quyết định giao đất cho Công ty TNHH MTV G (kèm theo bản đồ địa chính); Quyết định giao đất lâm nghiệp cho UBND huyện Đ quản lý, sử dụng (kèm theo biên bản bàn giao của các cơ quan có thẩm quyền) xác định được như sau: ...Trong tổng số 6.1183 m2 đất tranh chấp chỉ có 5.1183 m2 là đất đã được giao cho UBND huyện Đ quản lý, sử dụng; còn 10.000m2 tuy nằm trong khoảnh 3, tiểu khu A nhưng không thuộc đất giao cho UBND huyện Đ mà là đất lâm nghiệp của Công ty TNHH MTV G.
Như vậy, nội dung xác minh này có liên quan đến việc xem xét tính hợp pháp của việc xác định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lưu Thị K có hợp pháp hay không? Ở trường hợp này, để có căn cứ xác định thì cần đưa Công ty TNHH MTV G tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan thì mới đủ cơ sở để giải quyết vụ án. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty TNHH MTV G1 bỏ sót tư cách đương sự và có ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
[2] Về thu thập chứng cứ:
[2.1] Ông Nguyễn Chí T cho rằng, nguồn gốc đất do ông T khai hoang vào năm 2002, diện tích khoảng 5,7ha (đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 20-7-2020). Về quá trình sử dụng: Tại đơn khởi kiện ngày 25-5-2020, ông T trình bày “sau khi khai hoang tôi cho bà Lưu Thị K mượn để canh tác sau đó bà K tự ý kê khai, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà K”. Tại bản tự khai ngày 20-7-2020 và ngày 05-4-2018 ông T lại trình bày “Năm 2003, tôi cho anh Huỳnh Thái L3 (là người quen của bà K) mượn trồng
màu. Năm 2004, tôi lấy lại rẫy và đã trồng được 400 cây cà phê. Sau đó bà K tự ý đốt rẫy, cháy hết cà phê của tôi và tự ý kê khai, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tại bản tự khai ngày 12-11-2013, ông T trình bày “năm 2003, tôi và em tôi là Nguyễn Anh T3 có vào TIỂU KHU A thuộc địa phận xã Đ do Lâm trường Đ quản lý phát rẫy để canh tác khoảng 3 sào đất, cùng bà con đồng bào xã Đ phát tại thời điểm đó, song thời điểm ấy nghiêm ngặt không cho chặt phá rừng làm rẫy. Vậy tôi đã để hoang. Cho tới năm 2005 tôi cùng em tôi là T3 vào phát và mở rộng thêm diện tích để trồng cà phê, nhưng tôi không trồng cà phê, lại bỏ hoang. Năm 2007, tôi thuê gia đình ông H2 phát rừng chồi cho tôi. Nhưng Lâm trường không cho tôi trồng cà phê mà bắt cải tạo rừng, nhưng phải có hộ khẩu tại địa phương mới cho làm. Vậy, tôi có quen biết bà Lưu Thị K mua mảnh rẫy của bà Phạm Thị Y cũng ở gần rẫy tôi phát, chỗ quen biết tôi có nhờ bà K đứng ra nhận hợp đồng giúp...”.
Chứng cứ tại hồ sơ thể hiện: Tại biên bản làm việc vào ngày 30/11/2012 (bút lục số 57) thể hiện: Ông K S và ông Phạm Văn T4 trình bày: Các ông không ký tên xác nhận hộ giáp ranh trên hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K, mà là do bà K đã tự ký tên các ông. Đồng thời, tại biên bản này bà K cũng thừa nhận đã tự ý ký tên của hai người này.
Như vậy, việc cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên cần phải được xem xét và đánh giá lại.
[2.2] Tại biên bản lấy lời khai vào ngày 19/4/2018 (bút lục số 53) bà Lưu Thị K đã trình bày như sau: “...Năm 2017 tôi đã chuyển vào tài khoản của ông T số tiền 200.000.000 đồng.”
Tuy nhiên, quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành làm rõ có việc chuyển tiền như lời trình bày của bà K hay không? Đây là tiền nhận chuyển nhượng đất hay tiền gì? Nếu không phải là tiền nhận chuyển nhượng đất thì tại sao bà lại chuyển tiền cho ông T.
[2.3] Chứng cứ do các bên đương sự cung cấp, cụ thể:
- Bà Lưu Thị K cung cấp chứng cứ là bản viết tay “Hợp đồng lao động” đề ngày 24/7/2009 nội dung thể hiện: việc ký kết giữa bà K và bà Lê Thị L (là vợ ông T, có nội dung: “Hai bên đi đến thống nhất và hợp đồng: Bà L đồng ý với bà K để ông T là chồng bà L trông nom giúp việc chỉ dẫn người lao động trồng, cấy cây công nghiệp và cây nông sản cho bà K, với mức lương 30.000.000 đồng/năm. Diện tích đất mà các bên ký hợp đồng được xác định là thuộc tiểu khu A.
- Trong khi đó, phía ông T thì cung cấp tờ giấy thỏa thuận viết tay đề ngày 26/01/2013, thể hiện nội dung: cho ông L3, bà T5 thuê diện tích đất tại thôn B.
Phần cuối trang của bản thỏa thuận này được thể hiện dòng chữ của người ký là ông Nguyễn Thái L4, có nội dung: “Tôi Nguyễn Thái L4 có thuê mảnh đất của ông Nguyễn Chí T như trong hợp đồng đã ký kết. Nhưng lại trùng hợp với thửa đất 263 mang tên bà Lưu Thị K...”
Như vậy, trong tranh chấp này, chứng cứ mà các đương sự cung cấp và trình bày còn có nhiều mâu thuẫn chưa được làm rõ.
[3] Tóm lại: Do trong quá trình giải quyết tranh chấp này này, Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhiều thiếu sót về xác định tư cách đượng sự, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, nên chưa đủ cơ sở để giải quyết một cách đúng pháp luật yêu cầu của đương sự. Những thiếu sót này Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về án phí: Do hủy án sơ thẩm, vì vậy ông T không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Chí T.
Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
Hoàn trả ông T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000268 ngày 05/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 562/2024/DS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 562/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí Thanh
