Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 562/2023/DS-PT

Ngày 18 tháng 8 năm 2023

V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng dân sự và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Huynh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 551/2022/TLPT-DS ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1984/2023/QĐPT-DS ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Phong T, sinh năm 1958 (vắng mặt);

Địa chỉ: 2237b Lapalma Ave Anheim CA 92806 USA.

ĐKHKTT: Ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 (có mặt);

Địa chỉ: Số 290/9C Lê B, phường Hưng L, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1954 (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án);
  2. Bà Võ Thị T2, sinh năm 1964 (xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Thanh X (Tran Lily), sinh năm 1956; Địa chỉ: USA (Hoa Kỳ) (vắng mặt).
  2. Ông Trần Phong K (Tran Kevin K), sinh năm 1961; Địa chỉ: USA (Hoa Kỳ) (vắng mặt).
  3. Bà Trần Thị Thanh T3 (Tran Edith T3), sinh năm 1963; Địa chỉ: USA (Hoa Kỳ) (vắng mặt).
  4. Bà Châu Thị K2 (Chau T4 Thi), sinh năm 1937; Địa chỉ: USA (Hoa Kỳ) (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà X, ông K, bà T3 và bà K2: Ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1976; Địa chỉ: 02.04, Lầu 2, Tòa nhà Newton Residence, Số 38 Trương Quốc D, Phường 8, Quận Phú N, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà X, ông K, bà T3 và bà K2:

Luật sư Trương Thị H2 – Văn phòng Luật sư Trương Thị Hòa, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt khi xét xử, có mặt khi tuyên án);

Luật sư Nguyễn Minh H3 – Văn phòng Luật sư Trương Thị H2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).

  1. Ông Nguyễn Phong T4, sinh năm 1971 (vắng mặt);
  2. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1965 (chết ngày 03/01/2021 – BL 620);

Cùng địa chỉ: ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L1:

  1. Ông Nguyễn Phong T4, sinh năm 1971 (vắng mặt);
  1. Ông Phạm Minh Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1997 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.

* Người đại diện theo ủy quyền của ông T4, ông Đ và bà D: Bà Hà Phương T5, sinh năm 1985 (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án);

Địa chỉ: Số 290/9C Lê B, Phường Hưng L, Quận Ninh K, thành phố Cần Thơ

  1. Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1952 (xin vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ A, sinh năm 1954 (xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp Trường P, xã An M, huyện Kế S, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Ông Trần Văn V1, sinh năm 1978 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Ủy ban nhân dân huyện P2, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp 4, thị trấn Long P2, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.

- Người kháng cáo:

Bị đơn là ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thanh X (Tran Lily), ông Trần Phong K (Tran Kevin K), bà Trần Thị Thanh T3 (Tran Edith T3), bà Châu Thị K2 (Chau T4 Thi) (do ông Nguyễn Xuân H1 đại diện theo ủy quyền), ông Trần Văn Đ1, bà Nguyễn Thị Mỹ A và ông Trần Văn V1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Trần Phong T và người đại diện cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:

Nguyên vào năm 2010, ông Trần Phong T về Việt Nam nhận chuyển nhượng đất nhưng do ông T là Việt kiều định cư tại Hoa Kỳ nên không đứng tên chuyển nhượng và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Do đó, vào ngày 08/3/2011 ông T có nhờ vợ chồng ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 đứng tên hộ và ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất với vợ chồng ông Trần Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị Mỹ A, đến ngày 13/04/2011 UBND huyện P2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 095133 (số vào sổ CH00105) cho ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 đối với phần đất chuyển nhượng có diện tích 9.900m² (đo đạc thực tế 10.414,4m²) thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng. Việc ông T1 và bà T2 đứng tên hộ có lập “Đơn xin xác nhận việc đứng tên hộ QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/11/2010” và “Giấy cam kết và xác nhận ngày 10/6/2016".

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông T gửi tiền về thuê ông T1 trồng cây và làm cỏ đất. Đến ngày 26/11/2005, ông T thuê ông T4 và bà L1 giữ vườn cho ông T, có trách nhiệm chăm sóc quản lý cải tạo đất và trực tiếp canh tác, trồng trọt, sử dụng toàn bộ đất, trong việc thuê giữ vườn có lập hợp đồng và lập vi bằng.

Do già yếu và sức khỏe kém nên vào năm 2011 ông T đã chính thức hồi hương về định cư, sinh sống tại Việt Nam và nhập Quốc tịch Việt Nam; ngày 27/12/2011 ông T được cấp Giấy chứng minh nhân dân và ngày 21/05/2012 ông T đã nhập hộ khẩu (được cấp Sổ hộ khẩu) nên đã đủ điều kiện để được đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Ông T có yêu cầu ông T1 và bà T2 lập thủ sang tên, chuyển trả quyền sử dụng đất cho ông T để ông T có chỗ ở làm ăn sinh sống, nhưng phía ông T1 bà T2 không đồng ý trả. Ông T có yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Song Phụng hòa giải nhưng không thành.

Phần đất thuộc thửa đất số 118 không phải di sản của cố H4 và cố N3. Đây là tài sản riêng của ông T đã nhận chuyển nhượng từ ông Đ1 và bà A.

Nay ông Trần Phong T yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • Buộc ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 trả lại cho ông Trần Phong T quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 10.414,4m², thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng.
  • Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 095133 (số vào sổ CH00105) ngày 13/04/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P2 cấp cho ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2.

Bị đơn Trần Văn T1, Võ Thị T2 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Quốc D trình bày:

Về nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 9.900m² (đo đạc thực tế 10.414,4m²) thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng là của cố Trần Phước H4 và cố Lê Thị N3 (ông bà nội ông T) để lại cho 05 người cháu nội (Trần Văn Đ1, Trần Phong T, Trần Phong K, Trần Thị Thanh T3 và Trần Thị Thanh X) theo “Tờ lập tự ngày 25-08A1-1980”.

Năm 1992, ông Trần Văn Đ1 kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất (BL 643) và được UBND huyện P2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 049588, ngày 19/03/1992 cho ông Trần Văn Đ1, gồm thửa đất số 112 diện tích 5.375m² (loại đất T+Q), thửa đất số 118 diện tích 9.900m² (loại đất Q) và thửa đất số 121 diện tích 8.325m² (loại đất 2L), cùng tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh H4 Giang (nay Sóc Trăng).

Ông T cho rằng ông mang tiền về Việt Nam nhận chuyển nhượng đất rồi nhờ ông T1 và bà T2 đứng tên hộ thửa đất số 118 nêu trên là không đúng, vì việc chuyển tên thửa đất số 118 từ ông Đ1 và bà Mỹ A sang tên ông T1 và bà T2 là theo yêu cầu của ông Đ1, ông T, ông K, bà X, bà T3 và bà T4.

Ông T1 và bà T2 thừa nhận có ký tên vào “Đơn xin xác nhận về việc đứng tên hộ QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/12/2010” theo yêu cầu ông T là cần thể hiện có nhiều đất trên giấy xác nhận đứng tên hộ (ông T không nói rõ làm gì) nên ông T lập ra văn bản có tất cả 08 thửa đất, trong đó chỉ có các thửa đất số 110, 109 và 108 là của ông T nhờ các bị đơn mua và đứng tên hộ, còn lại các thửa đất số 112, 118, 838, 106 và 119 là đất của ông bà để lại cho 05 người cháu nội theo “Tờ lập tự ngày 25-08A1-1980”.

Việc ký tên vào đơn xin xác nhận nêu trên là bị ông T lừa dối, khi biết ông T lừa dối nên chúng tôi không đồng ý làm thủ tục sang tên cho ông T nên ông T khởi kiện.

Theo nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, phần đất có diện tích 9.900m² (đo đạc thực tế 10.414,4m²), thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng và hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 095133 (số vào sổ CH00105) ngày 13/04/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P2 cấp cho bị đơn là không cơ sở nên bị đơn không đồng ý.

Nay phản tố, bị đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên bố hủy “Đơn xin xác nhận về việc đứng tên hộ QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/12/2010” (BL 33);
  • Tuyên bố Hợp đồng giữ vườn được xác lập giữa ông Trần Phong T với ông Nguyễn Phong T4 và bà Lê Thị L1 là vô hiệu.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Trần Thị Thanh X, Trần Phong K và Trần Thị Thanh T3 và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Xuân H1 trình bày:

Về nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 9.900m² (đo đạc thực tế 10.414,4m²) thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng là của cố Trần Phước H4 (chết năm 1982) và cố Lê Thị N3 (chết năm 1981) là ông bà nội của chúng tôi và ông T để lại theo di chúc ngày 25-08A1-1980. Các đồng thờihừa kế theo di chúc đã lập Tờ thỏa thuận ngày 26/09/2003, nên diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng chung của Trần Thị Thanh X, Trần Phong T, Trần Phong K và Trần Thị Thanh T3.

Ông T cũng đã thừa nhận tại Bản án sơ thẩm số 35/2018/DS-ST ngày

18/07/2018, Bản án phúc thẩm số 254/2019/DS-PT ngày 26/06/2019 và Biên bản hòa giải ngày 11/6/2020, nguồn gốc đất là của ông bà nội để lại. Do đó ông T cho rằng diện tích đất tranh chấp là tài sản riêng của ông T là không đúng. Không có việc ông T gửi tiền về Việt Nam để nhận chuyển nhượng đất, vì đất của ông bà chuyển sang và chúng tôi nhờ ông T1, bà T2 đứng tên dùm, việc đứng tên dùm ông T1 và bà T2 cũng đã thừa nhận trong các bản tự khai và các biên bản hòa giải.

Đối với Giấy cam kết và xác nhận ngày 10/06/2016 của ông T1, bà T2 cho ông T, cũng như đơn xin xác nhận ngày 17/06/2016 của ông T1, bà T2 cho ông T đối với thửa đất tranh chấp đều không có sự đồng ý của chúng tôi, nên việc xác nhận này là vô hiệu, không có giá trị pháp lý.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 08/07/2019, phần đất giá đất 55.000đ/m² thành tiền 572.792.000đồng, tổng giá trị đất và tài sản trên đất 979.692.925đồng là không đúng với giá thực tế, cần phải định giá lại tại Thời điểmgiải quyết.

Nay theo yêu cầu độc lập, chúng tôi yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Công nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, phần đất diện tích 9.900m² (đo đạc thực tế 10.414,4m²) thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng, thuộc quyền sử dụng chung của Trần Thị Thanh X, Trần Phong T, Trần Phong K và Trần Thị Thanh T3.
  • Hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 095133 (số vào sổ CH00105) ngày 13/04/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P2 cấp cho ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2.
  • Tuyên Giấy cam kết và xác nhận ngày 10/06/2016, Đơn xin xác nhận ngày 17/06/2016 của ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2 là vô hiệu.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Trần Phong T4 và Lê Thị L1 trình bày:

Nguyên ngày 26/11/2015, ông Trần Phong T thuê vợ chồng T4, L1 giữ vườn, phần đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng, hiện tại ông T4 và bà L1 quản lý, sử dụng; trong việc thuê giữ vườn có lập hợp đồng và vi bằng, thỏa thuận giao cho ông T4 và bà L1 quản lý, trông coi, gìn giữ vườn, chăm sóc, có trách nhiệm trồng trọt và được hưởng hoa lợi trên đất, ông T trả công 2.000.000đồng/2 người/tháng.

Theo ông bà biết, nguồn gốc phần đất nêu trên là của bà nội ông T tên Nguyễn Thị N3 tạo lập. Sau đó, do gia đình ông T vượt biên đi nước ngoài hết nên ông Trần Văn Đ1 về ở chung để chăm sóc cố N3. Từ đó ông Đ1 được

hưởng thừa kế và được cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Đến năm (không nhớ), năm 2010 ông T về nước nhận chuyển nhượng lại phần đất này từ ông Đ1 và bà Mỹ A, nhưng do ông T không đứng tên được nên nhờ ông T1 và bà T2 đứng tên thay.

Nngười có quyền và nghĩa vụ liên quan Trần Văn Đ1 trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích 9.900m² (đo đạc thực tế 10.414,4m²) thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng là của cố Trần Phước H4 và cố Lê Thị N3 (ông bà nội ông T), cố H4 và cố N3 có 04 người con ruột, nhưng 03 người chết trẻ khi chưa có gia đình, còn lại 01 người là cụ Trần Phước Thạnh (đã chết khoảng năm 1966 – 1967, là cha ông T), cụ Thạnh có vợ là cụ Châu Thị T4 và có 06 người con, trong đó có ông T và những người còn lại ông không nhớ họ tên.

Năm 1979 gia đình mẹ con, anh chị em ông T đi nước ngoài hết nên đầu năm 1980 ông Đ1 về ở chung để chăm sóc cố H4 và cố N3, trong năm 1980 cố H4 chết, năm 1981 cố N3 chết nên toàn bộ tài sản, đất đai (trong đó có thửa đất số 118) ông Đ1 trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 1983 ông Đ1 kê khai, đăng ký yêu cầu cấp Giấy chứng nhận và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoảng năm 2011, ông T và ông Trần Phi Long (anh rể ông T) về Việt Nam và lúc bấy giờ ông Đ1 cũng đã về ấp Trường Phú, xã An Mỹ ở nên trả lại phần đất này cho gia đình ông T, do ông T không đứng tên được nên nhờ ông Trần Văn T1 đứng tên, để hợp thức hóa cho việc trả đất nên lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/03/2011, chứ thực chất không phải là chuyển nhượng đất, ông Đ1 không có nhận tiền, vàng gì của ông T hoặc ông T1, sau khi giao trả đất ông T thuê người giữ vườn và quá trình sử dụng đất sau này ông Đ1 không rõ.

Ông Đ1 khẳng định phần đất thửa đất số 118 không phải tài sản của ông Đ1 chuyển nhượng cho ông T1 và bà T2, ngoài thửa đất số 118 thì cố H4 còn để lại nhiều thửa đất khác, trước khi chết cố H4 có để lại di chúc chia di sản làm 5 phần: Trần Phong T, Trần Phong K, Trần Thị Thanh T3 và Trần Thị Thanh X (04 người cháu nội) mỗi người 01 phần, ông Đ1 được 01 phần nhưng ông Đ1 không chọn thửa đất số 118 nên làm thủ tục để giao lại cho những người thừa kế khác (ông Đ1 đã giao tờ di chúc cho mẹ ông T là bà Châu Thị T4 vào năm 1989).

Hiện nay, ngoài tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Trần Phong T và bị đơn Trần Văn T1, Võ Thị T2 thì còn phát sinh quan hệ tranh chấp di sản thừa kế.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Châu Thị K2 (Chau T4 Thi) là ông Nguyễn Xuân H1 trình bày:

Như nội dung yêu cầu độc lập nêu trên.

UBND huyện P2 có ý kiến:

Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 095133 ngày 13/04/2011 cho ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2 đối với thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng, được thực hiện theo quy định tại Điều 23 Thông T4 số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Việc hủy toàn bộ Giấy chứng nhận số BE 095133 theo yêu cầu của đương sự, đề nghị Tòa án nhân dân xem xét giải quyết theo quy định.

Bà Nguyễn Thị Mỹ A, ông Trần Văn V1, người đại diện theo ủy quyền của ông Đ và bà D là bà Hà Phương T5:

Đã nhận được các thông báo, biết rõ nội dung vụ án nhưng không có ý kiến và không tham gia tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2022/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Căn cứ khoản 2, 3 và 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 147, Điều 153, Điều 165, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 266 và điểm a khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Áp dụng Điều 11, Điều 15, Điều 164 và Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 5, 6 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Phong T về việc yêu cầu bị đơn Trần Văn T1 và Võ Thị T2 lập thủ tục chuyển trả quyền sử dụng đất diện tích là 10.414,4m², thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng cho nguyên đơn Trần Phong T.

Buộc các bị đơn Trần Văn T1 và Võ Thị T2 lập thủ tục chuyển quyền sử dụng đất diện tích là 10.414,4m², Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng cho nguyên đơn Trần Phong T. Vị trí và tứ cận như sau: Hướng đông – bắc: Giáp đất ông Trần Văn Nghiệp, có số đo 92,97m; hướng tây – nam: Giáp phần đất ông Trần Văn Chính, có số đo 94,33m; hướng tây – bắc: Giáp đường bê tông, có số đo 132,78m; hướng đông – nam: Giáp phần đất ông Lữ Khắc Điệp, có số đo 86,20m + 8,04m + 22,65m. (có sơ đồ hiện trạng đất kèm theo)

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Trần Phong T:

Để lại diện tích đất lối đi từ lộ đal vào khu mộ (ngang 02m) và diện tích đất khu nhà mộ là 514,4m² trong diện tích 10.414,4m², thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng. Vị trí và tứ cận như sau: Hướng đông - bắc: giáp phần đất còn lại của thửa 118 và đất ông Lữ Khắc Điệp, có số đo 76,15m + gấp khúc 19,06m +

6,92m + 8,04m; hướng tây – nam: Giáp phần đất của ông Trần Văn Chính 94,33m; hướng tây – bắc: Giáp đường bê tông, có số đo 2m; hướng đông – nam: Giáp phần đất ông Lữ Khắc Điệp, có số đo 22,65m. (có sơ đồ hiện trạng đất kèm theo)

2.1.2. Hỗ trợ cho ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2 100.000.000 đồng và chấp thuận trả toàn bộ các khoản thuế, phí, lệ phí phát sinh nghĩa vụ của ông T1, bà T2 trong quá trình tiến hành thủ thục chuyển nhượng sang tên đất cho ông T.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn Trần Văn T1 và Võ Thị T2 về việc yêu cầu tuyên bố hủy “Đơn xin xác nhận về việc đứng tên hộ QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 11/12/2010” và tuyên bố Hợp đồng giữ vườn được xác lập giữa ông Trần Phong T với ông Nguyễn Phong T4 và bà Lê Thị L1 là vô hiệu.
  2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần Thị Thanh X, Trần Phong K và Trần Thị Thanh T3 về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, phần đất diện tích 10.414,4m², Thửa đất số 118, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã P1, huyện P2, tỉnh Sóc Trăng, thuộc quyền sử dụng chung của Trần Thị Thanh X, Trần Phong T, Trần Phong K và Trần Thị Thanh T3; hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 095133 ngày 13/04/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P2 cấp cho ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2; tuyên Giấy cam kết và xác nhận ngày 10/06/2016, Đơn xin xác nhận ngày 17/06/2016 của ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2 là vô hiệu.
  3. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật phải điều chỉnh biến động hoặc cấp đổi đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 095133 ngày 13/04/2011 của Ủy ban nhân dân huyện P2 cấp cho ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 cho phù hợp với thực trạng và quyết định bản án đã tuyên.

6. Về lệ phí và chi phí ủy thác T4 pháp ra nước ngoài:

6.1. Về lệ phí: Tổng cộng là 800.000 đồng; ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 phải chịu 400.000 đồng; bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Phong K và bà Trần Thị Thanh T3 phải chịu là 400.000 đồng.

Do ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 đã nộp tạm ứng lệ phí số tiền 800.000 đồng, theo Biên lai thu số 0007879 ngày 25/11/2019 và Biên lai thu số 0008145 ngày 07/12/2020 của Cục THADS tỉnh Sóc Trăng. Khấu trừ số tiền ông T1 và bà T2 đã nộp tạm ứng nêu trên, do đó ông T1 và bà T2 đã nộp xong lệ phí và được nhận tại số tiền còn dư là 400.000 đồng.

6.2. Về chi phí ủy thác T4 pháp ra nước ngoài: Tổng cộng là 11.581.218 đồng; ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 phải chịu số tiền 5.790.609 đồng; bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Phong K và bà Trần Thị Thanh T3 phải chịu số tiền 5.790.609 đồng.

Do ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 đã tạm ứng số tiền 11.581.218 đồng, nêu ông T1 và bà T2 đã nộp xong chi phí ủy thác T4 pháp ra nước ngoài, hoàn trả cho ông T1 và bà T2 số tiền còn dư là 5.790.609 đồng.

7. Về chi phí đo đạc, định giá tài sản: Tổng cộng 10.850.000 đồng. Ông Trần Văn T1 và bà Võ Thị T2 phải chịu số tiền 5.425.000 đồng; bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Phong K và bà Trần Thị Thanh T3 phải chịu số tiền 5.425.000 đồng.

Do ông Trần Phong T đã nộp tạm ứng số tiền 10.850.000 đồng, do đó ông Trần Văn T1; bà Võ Thị T2; bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Phong K và bà Trần Thị Thanh T3 phải nộp trả lại số tiền trên để trả lại cho ông T.

8. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định của pháp luật.

9. Về án phí:

9.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2, bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Phong K và bà Trần Thị Thanh T3 mỗi người phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà các ông, bà đã nộp theo các Biên lai thu số 0009058, 0009059, 0009060, 0009061, 0009062 cùng ngày 14/4/2021 của Cục THADS tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Trần Văn T1, bà Võ Thị T2, bà Trần Thị Thanh X, ông Trần Phong K và bà Trần Thị Thanh T3 đã nộp xong án phí.

9.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

- Ông Trần Văn T1, bà Trần Thị Thanh X (Tran Lily), ông Trần Phong K (Tran Kevin K), bà Trần Thị Thanh T3 (Tran Edith T3), bà Châu Thị K2 (Chau T4 Thi), ông Trần Văn Đ1, và bà Nguyễn Thị Mỹ A được miễn. Hoàn trả cho ông Trần Văn T1, bà Trần Thị Thanh X (Tran Lily), ông Trần Phong K (Tran Kevin K), bà Trần Thị Thanh T3 (Tran Edith T3), bà Châu Thị K2 (Chau T4 Thi), ông Trần Văn Đ1, và bà Nguyễn Thị Mỹ A, mỗi đương sự 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng thờiạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002468, số 0002474, số 0002473, số 0002476, số 0002471 cùng ngày 27/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.

- Bà Võ Thị T2 và ông Trần Văn V1 mỗi đương sự phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002469 và 0002472 cùng ngày 27/9/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.

10. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; T hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

11. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Các đương sự (16);
  • - Lưu HSVA (1), VP (5), 27b (PPC);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vũ Ngọc Huynh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 562/2023/DS-PT ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng dân sự và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 562/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng dân sự và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger