|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 561/2024/HS-ST Ngày: 11-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Tâm
- Ông Mai Thanh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 534/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 600/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 627/2024/HSST-QĐ ngày 07/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Thanh T; sinh ngày: 21/12/1988; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 30/4 Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 1 Đường A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Liêu Thị Bé S, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con út; con bị cáo tên Nguyễn Huy C, sinh năm: 2016; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Võ Thị Thu T1; sinh ngày 25/3/1987; Nơi sinh: tỉnh Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở): 3 C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; con ông Võ Văn T2, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; chồng bị cáo: Nguyễn Minh Q, sinh năm: 1983; có 02 con: Nguyễn Vũ Quỳnh A, sinh năm: 2013 và Nguyễn Vũ Minh A1, sinh năm: 2015; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tạm giam từ ngày 25/6/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thị P; sinh ngày 08/02/1978; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở): Số B N, Tổ dân phố A, Khu phố A, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1957; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn; chồng bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1972; có 02 người con Nguyễn Ngọc Thủy T4, sinh năm: 2005 và Nguyễn Ngọc Thanh T5, sinh năm: 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/7/2020, bị Công an P2, quận B xư phạt hành chính về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt ngày 23/7/2020); bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/6/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Tiến H1, sinh năm: 1983; địa chỉ: Số A Đường số F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Là Luật sư Văn phòng Luật sư Đại Quốc V thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 17/5/2024 đến ngày 12/6/2024, thông qua mối quan hệ và biết Nguyễn Thị P có ghi đề nên Nguyễn Thị Thanh T sử dụng tài khoản Zalo tên “Maria T”, số điện thoại đăng kí 0931.889.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo “Nguyễn P” cho P để mua số đề rồi T dùng tài khoản ngân hàng S1, số tài khoản 0602244295404, tên NGUYEN THI THANH TRANG chuyển khoản tiền thanh toán mua số đề đến tài khoản ngân hàng V1, số tài khoản 0461000457550, tên NGUYEN THI PHAN. Sau đó, P chuyển toàn bộ lô đề cho Võ Thị Thu T1 bằng cách gặp trực tiếp T1 tại nhà T1 (địa chỉ 3 C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Võ Thị Thu T1 trực tiếp ghi số đề cho người muốn chơi số đề tại nhà với khách, T1 không giao lại cho người khác. Hàng ngày, vào khoảng 13 giờ 30 phút, T1 bắt đầu bán ô số đề cho khách.
Hình thức ghi đề: Khách mua số có 02 chữ số với số tiền là 1.000 đồng, nếu trúng được 75.000 đồng; mua số có 03 chữ số với số tiền 1.000 đồng, nếu trúng được 650.000 đồng; mua 02 chữ số đá chéo với số tiền 1.000 đồng, nếu trúng được 550.000 đồng; mua 03 chữ số đá chéo với số tiền 1.000 đồng, nếu trúng được 1.500.000 đồng và kết quả trúng số đề dựa theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N. T1 sẽ ghi tờ phơi (tờ phơi là loại tờ giấy A4 cắt nhỏ), sau đó T1 giao tờ phơi số đề cho khách rồi nhận tiền mặt, nếu khách chơi số đề trúng thì khách sẽ mang tờ phơi đến nhà T1 đưa cho T1, sau đó T1 sẽ trả tiền.
Quá trình điều tra đã xác định được T đã chơi số đề các đài miền N ăn thua với T1 thông qua P được 15 lần và trong đó T trúng được 01 lần, cụ thể như sau:
- Ngày 17/05/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 160.000 đồng. Kết quả: T thua 160.000 đồng.
- Ngày 18/05/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 160.000 đồng; “832” và “632” (xỉu chủ), với số tiền 32.000 đồng. Kết quả: T thua 192.000.
- Ngày 24/05/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 50.000 đồng; “832” và “632” (xỉu chủ), với số tiền 10.000 đồng. Sau đó, P liên hệ với T1 mua số “568”, với số tiền 50.000 đồng; số “832” và “632”, với số tiền 10.000 đồng với tổng số tiền 192.000 đồng (tương ứng 1.000 đồng trúng 650.000 đồng). Kết quả T đã trúng số “632” (giải 7); P đã đến nhà T1, sau đó P đưa tờ phơi ô số đề cho T1 để nhận số tiền trúng đề là 6.500.000 đồng sau đó P sử dụng tài khoản ngân hàng S1, số D, chủ tài khoản NGUYEN THI PHAN chuyển tiền trúng số đề cho T đến tài khoản ngân hàng S1, số F, chủ tài khoản NGUYEN THI THANH TRANG với số tiền 5.916.000 đồng (sau khi đã trừ 84.000 đồng tiền T đã nợ các lần mua số đề các ngày trước đó), P được hưởng 500.000 đồng.
- Ngày 25/05/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 160.000 đồng. Kết quả: T thua 160.000 đồng.
- Ngày 26/05/2024, T mua của P số “854” và “855” (xỉu chủ), với số tiền 64.000 đồng. Kết quả: T thua 64.000 đồng.
- Ngày 28/05/2024, T mua của P số “354” và “351” (xỉu chủ), với số tiền 64.000 đồng. Kết quả: T thua 64.000 đồng.
- Ngày 29/5/2024, T mua của P số “469”, “454” và “855” (xỉu chủ), với số tiền 10.000 đồng. Kết quả: T thua 96.000 đồng.
- Ngày 30/5/2024, T mua của P số “569”, “554”, “269” và “868” (xỉu chủ), với số tiền 128.000 đồng. Kết quả: T thua 128.000 đồng.
- Ngày 31/05/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 160.000 đồng; số “669”, “654”, “269” và “632” (xỉu chủ), với số tiền 10.000 đồng. Kết quả: T thua 244.000 đồng.
- Ngày 05/06/2024, T mua của P số “467”, “294”, “469”, “494”, “269”, “456” và “454” (xỉu chủ), với số tiền 224.000 đồng, thỏa thuận tương ứng 1.000 đồng trúng 600.000 đồng. Kết quả: T thua 224.000 đồng.
- Ngày 07/06/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 160.000 đồng; 05 số “294”, “269”, “694”, “654” và “669” (xỉu chủ), với số tiền 160.000 đồng. Kết quả: T thua 320.000 đồng.
- Ngày 08/06/2024, T mua của P số “568” (xỉu chủ), với số tiền 40.000 đồng; số “271”, với số tiền 16.000 đồng. Kết quả: T thua 56.000 đồng.
- Ngày 10/06/2024, T mua của P số “294” và “295” (xỉu chủ), với số tiền 64.000 đồng. Kết quả: T thua 64.000 đồng.
- Ngày 11/06/2024, T mua của P số “271” và “295” (xỉu chủ), với số tiền 64.000 đồng. Kết quả: T thua 64.000.
- Ngày 12/06/2024, T mua của P số “295”, “454” và “271” (xỉu chủ), với số tiền 96.000 đồng. Kết quả: T thua 96.000 đồng.
Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 14/06/2024, khi Triệu Ngô N1 đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng, biển số 59T2 – 630.57 chở Nguyễn Thị Thanh T đi đến trước địa chỉ số A đường V, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ công tác 363 Công an Thành phố H kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, N1 không xuất trình được giấy phép lái xe và giấy tờ đăng ký xe; đồng thời phát hiện bên trong điện thoại của N1, T các nội dung tin nhắn liên quan đến đánh bạc và vay tiền có lãi suất nên tổ tuần tra tiến hành bàn giao cho Công an phường B tiếp nhận thông báo cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T giải quyết theo quy định.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiến hành truy xét đưa Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 về làm việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, P và T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Ngoài ra, Nguyễn Thị Thanh T và Triệu Ngô N1 còn khai nhận: Tháng 03/2024, T và N1 vay của người đàn ông tên T6 (không rõ lai lịch) với số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 1.000.000 đồng/tháng. Hàng tháng, T sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S1 thanh toán lãi suất cho T6 đến số tài khoản 060244295404 mở tại Ngân hàng S2 mang tên DO DANG TRUNG.
* Vật chứng vụ án:
- 03 vé dò kết quả xổ số ngày 13/6/2024 (bản photo);
- 03 vé dò kết quả xổ số ngày 14/6/2024 (bản photo);
- 02 vé dò kết quả xổ số ngày 15/6/2024 (bản photo);
- Thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh;
- Thu giữ của Nguyễn Thị P 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh đen, không có sim;
- Thu giữ của Võ Thị Thu T1 01 điện thoại di động hiệu OPPO A59S, màu vàng gold và 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh.
Cáo trạng số 504/CT-VKSTPTĐ ngày 16/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 phạm tội “Đánh bạc”. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T1, T đang nuôi con nhỏ, bị cáo P là người có sức khỏe yếu quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng; xử phạt bị cáo Võ Thị Thu T1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, bị cáo T1 ngoài việc bán số đề cho bị cáo T, Phấn bị cáo còn bán số đề cho các đối tượng khác, do đó căn cứ khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35: phạt bổ sung bị cáo Võ Thị Thu T1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền liên quan đến việc đánh bạc là 6.692.000 đồng; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh đen, không có sim thu giữ của Nguyễn Thị P (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động OPPO A59S, màu vàng gold và 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh thu giữ của Võ Thị Thu T1 (đã qua sử dụng); Về án phí hình sự: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội đi làm kiếm tiền nuôi con.
Bị cáo P trình bày hiện nay sức khỏe yếu (chân tay run, không nhận biết được đại tiểu tiện), sinh hoạt hàng ngày phải phụ thuộc vào người thân chăm sóc do bị cáo đã mổ phẫu thuật U tủy lành bao sợi thần kinh C1C2 và điều trị Rối loạn lo âu lan tỏa tại Bệnh viện C2 vào tháng 3/2024 (BL 139); hàng tháng bị cáo vẫn phải uống thuốc, tập vật lý trị liệu theo chỉ định của bác sĩ Bệnh viện P3 (bị cáo có nộp hồ sơ bệnh án).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Thống nhất với tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình, mẹ đơn thân nuôi con nhỏ; bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Đây là nhưng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cho bị cáo cơ hội tự sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 14/06/2024, trước địa chỉ số A đường V, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ công tác 363 Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thị Thanh T và phát hiện: Ngày 24/5/2024, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán ô số đề đài miền N với số tiền đánh bạc là 6.692.000 đồng (tiền xác 192.000 đồng, tiền trúng đề 6.500.000 đồng). Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 nêu trên đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án:
Đây vụ án có đồng phạm, mang tính chất giản đơn. Hành vi của các bị cáo thực hiện đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều biết rõ hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vì hám lợi các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T1, T đang nuôi con nhỏ; bị cáo T đã chủ động nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc; bị cáo P là người có sức khỏe yếu. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên với thời gian bị cáo T, bị cáo T1 bị tạm giữ, tạm giam cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Riêng bị cáo Nguyễn Thị P là người có sức khỏe yếu, hàng tháng vẫn phải uống thuốc điều trị và tập vật lý trị liệu để phục hồi chức năng theo chỉ định của bác sĩ và từ khi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát cho bị cáo được tại ngoại đến nay bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, có nơi cư trú rõ ràng. Việc không cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội, cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương.
Với nhận định như trên và theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Võ Thị Thu T1 số tiền 20.000.000 đồng.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị P và Võ Thị Thu T1 vào các ngày 17,18,25,26,28,29,30,31 tháng 5/2024 và các ngày 05,07,08,10,11,12 tháng 6/2024 Đài miền N, số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không đủ định lượng để xử lý hình sự đối với T, P và T1 là có căn cứ.
Đối với Triệu Ngô N1 do không biết hành vi phạm tội của T và không tham gia đánh bạc nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên T6 đã cho vay lãi nặng đối với Triệu Ngô N1 và Nguyễn Thị Thanh T nhưng không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh đen, không có sim thu giữ của Nguyễn Thị P (đã qua sử dụng) và 01 (Một) điện thoại di động OPPO A59S, màu vàng gold và 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh thu giữ của Võ Thị Thu T1 (đã qua sử dụng). Đây đều là tang vật liên quan đến vụ án nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc các bị cáo nộp lại số tiền đánh bạc là 6.692.000 đồng vào ngân sách Nhà nước, trong đó: Bị cáo T1 nộp lại số tiền 192.000 đồng; Bị cáo P tự nguyện nộp lại số tiền 510.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận; bị cáo T nộp lại số tiền 5.990.000 đồng và được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0044930 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Võ Thị Thu T1, Nguyễn Thị Thanh T và Nguyễn Thị P phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Thị Thu T1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 20.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh T, Võ Thị Thu T1, nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Thanh T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Võ Thị Thu T1 cho Ủy ban nhân dân Phường A2, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Võ Thị Thu T1 có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Thị P cho Ủy ban nhân dân Phường A3, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị P có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt trước của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh đen, không có sim thu giữ của Nguyễn Thị P (đã qua sử dụng) và 01 (Một) điện thoại di động OPPO A59S, màu vàng gold và 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh thu giữ của Võ Thị Thu T1 (đã qua sử dụng).
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 354/QĐ-VKSTPTĐ ngày 24/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
- Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 5.990.000 đồng và được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0044930 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức;
- Buộc bị cáo P nộp lại số tiền 510.000 đồng vào ngân sách Nhà nước tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Buộc bị cáo T1 nộp lại số tiền 192.000 đồng vào ngân sách Nhà nước tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Lưu hồ sơ vụ án bản photo: 03 vé dò kết quả xổ số ngày 13/6/2024; 03 vé dò kết quả xổ số ngày 14/6/2024; 02 vé dò kết quả xổ số ngày 15/6/2024.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do N2 hành Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền gốc chưa thi hành án.
4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- Bị cáo Võ Thị Thu T1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo bản án.
Đã giải thích chế định án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 561/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 561/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TÙ CHO HUONG AN TREO
