|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 561/2024/DS-PT Ngày: 20/6/2024 V/v Tranh chấp đòi tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đức
Các Thẩm phán:
Bà Trịnh Thị Ánh
Bà Nguyễn Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Lê Quỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Duy Dũng, Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2024/DSPT ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2238/2024/QĐ-PT ngày 02/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 7246/2024/QĐ-PT ngày 28/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần P1.
Trụ sở: Lầu A Tòa nhà P, K L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: ông Kakazu S - Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền:
- Bà Nguyễn Thị Thanh C. (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H. (có mặt)
- Bà Quách Thị T. (có mặt)
Cùng địa chỉ: B P, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Noriyuki S1.
Địa chỉ: H L, ấp D, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo uỷ quyền:
- Bà Nguyễn Thị H1. (có mặt)
Địa chỉ: I Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thúy H2. (có mặt)
Địa chỉ: 2/6 L, ấp D, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Hoàng Anh P - Đoàn Luật sư Thành phố H. (xin vắng mặt)
3. Người kháng cáo: bị đơn - Ông Noriyuki S1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/8/2015, Công ty Cổ phần P1 (gọi tắt là P1) ký kết Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn với Công ty HL với nội dung: Công ty HL sẽ thực hiện việc tư vấn và giới thiệu đối tác cho Công ty Cổ phần P1 để ký kết hợp đồng thuê khách sạn tại địa chỉ số I L, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Phí tư vấn ban đầu là 24.000 USD tương đương 535.920.000 VNĐ (Năm trăm ba mươi lăm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) và thanh toán ngay khi ký kết Hợp đồng. Cùng ngày, Công ty Cổ phần P1 nhận được phiếu yêu cầu thanh toán là Công ty HL uỷ quyền cho ông Noriyuki S1 nhận tiền và Công ty Cổ phần P1 đã chuyển toàn bộ số tiền 535.920.000 VNĐ vào tài khoản cá nhân của ông Noriyuki S1 là người đại diện cho Công ty HL, với thoả thuận là 02 ngày sau khi nhận được tiền thì ông Noriyuki S1 sẽ chuyển trả lại cho Công ty Cổ phần P1, nếu chậm thực hiện thì sẽ chịu lãi suất thoả thuận là 0,03%/ngày. Công ty Cổ phần P1 đã chuyển số tiền 535.920.000 VNĐ (Năm trăm ba mươi lăm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) vào số tài khoản 5029337 - Ngân hàng V - Địa chỉ: V Ho Chi Minh Branch - Tên tài khoản: S1 Noriyuki ngay ngày 20/8/2015. Tuy nhiên, sau khi chuyển tiền thì Công ty Cổ phần P1 không liên lạc được với ông Noriyuki S1 hay bất cứ đại diện nào của Công ty HL. Đồng thời, đối tượng của hợp đồng là khách sạn mà Công ty Cổ phần P1 dự kiến thuê cũng không thể thực hiện được. Bên cạnh đó, việc chuyển tiền được thoả thuận giữa hai pháp nhân nhưng lại chuyển cho cá nhân cũng không đúng quy định của pháp luật. Chính vì lẽ đó, Công ty Cổ phần P1 đã tìm mọi cách để liên lạc với ông Noriyuki S1 và Công ty HL để cùng tìm cách giải quyết, nhưng đều không nhận được sự phản hồi. Do đó, Công ty Cổ phần P1 khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Noriyuki S1 có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty Cổ phần P1 số tiền 535.920.000 đồng (Năm trăm ba mươi lăm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 20/8/2015 đến ngày 17/10/2020 là 407.677.826 đồng (Bốn trăm lẻ bảy triệu sáu trăm bảy mươi bảy nghìn tám trăm hai mươi sáu đồng).
Phía bị đơn trình bày:
Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguyên đơn kiện Công ty HL mới đúng trong hợp đồng, cụ thể: Vào ngày 20 tháng 8 năm 2015 Công ty HL ký kết hợp đồng tư vấn với Công ty Cổ phần P1 và nhận được khoản tiền 24.000 USD. Số tiền này được chuyển vào tài khoản cá nhân Noriyuki S1 tại Việt Nam. Lúc đầu Công ty HL dự định nhận tiền trong hợp đồng 24.000 USD sẽ được Công ty Cổ phần P1 thanh toán vào tài khoản của Công ty HL. Tuy nhiên phía Công ty Cổ phần P1 đề nghị rằng số tiền 24.000 USD sẽ được thanh toán vào tài khoản cá nhân Noriyuki S1 tại Việt Nam. Vì vậy, Công ty HL đã giao phó cho Noriyuki S1 là người đại diện phía Công ty HL để ký toàn bộ giấy tờ và nhận tiền đem về Công ty HL. Tất cả những hành vi Noriyuki S1 là hành vi của Công ty HL vì ông Noriyuki S1 là người đại diện cho Công ty HL và được tất cả các thành viên Công ty chấp nhận đồng ý. Nên ông Noriyuki S1 không có nghĩa vụ trả lại số tiền 24.000 USD này vì theo như hợp đồng giữa Công ty HL và Công ty Cổ phần P1 thì ông Noriyuki S1 nhận tiền này là tiền của Công ty HL, không phải của cá nhân ông Noriyuki S1 nên nguyên đơn khởi kiện cá nhân ông Noriyuki S1 là không đúng, nguyên đơn khởi kiện thì khởi kiện Công ty HL mới đúng trong hợp đồng. Do đó, đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại Bản án sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Noriyuki S1 hoàn trả cho Công ty Cổ phần P1 số tiền đã nhận là 535.920.000 đồng và số tiền lãi là 467.054.287 đồng. Tổng cộng: ông Noriyuki S1 phải trả Công ty Cổ phần P1 số tiền là 1.002.974.280 đồng (Một tỷ không trăm lẻ hai triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn hai trăm tám mươi đồng). Trả làm 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty Cổ phần P1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Noriyuki S1 chậm thi hành thì phải trả lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 15/8/2023, bị đơn - Ông Noriyuki S1 có Đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phía bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì không đúng đối tượng, không đúng chủ thể của hợp đồng.
Các đương sự không hoà giải được với nhau để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị huỷ án sơ thẩm, đưa Công ty HL vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ các chứng cứ trong hồ sơ cấp phúc thẩm không khắc phục được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn - Ông Noriyuki S1 nộp đơn kháng cáo và tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Đơn kháng cáo của bị đơn được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn ngày 20/8/2015 giữa Công ty Cổ phần P1 (gọi tắt là P1) với Công ty HL, thể hiện nội dung: Công ty HL sẽ thực hiện việc tư vấn và giới thiệu đối tác cho Công ty Cổ phần P1 để ký kết hợp đồng thuê khách sạn tại địa chỉ số I L, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Phí tư vấn ban đầu là 24.000 USD tương đương 535.920.000 VNĐ (Năm trăm ba mươi lăm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) và thanh toán ngay khi ký kết Hợp đồng. Cùng ngày, Công ty Cổ phần P1 nhận được phiếu yêu cầu thanh toán của Công ty HL nên Công ty Cổ phần P1 đã chuyển toàn bộ số tiền 535.920.000 VNĐ vào tài khoản cá nhân của ông Noriyuki S1. Sau đó do phát sinh mâu thuẫn, nguyên đơn cho rằng phía Công ty HL không thực hiện hợp đồng theo thoả thuận nên khởi kiện ông Noriyuki S1 đòi lại số tiền trên.
Xét thấy, căn cứ điểm c Điều 2 của Hợp đồng thể hiện: "Phí dịch vụ sẽ được Bên A thanh toán vào tài khoản ngân hàng của Bên B hoặc tài khoản khác do Bên B chỉ định ("Tài khoản chỉ định")", việc nguyên đơn chuyển 24.000 USD tương đương 535.920.000 VNĐ (Năm trăm ba mươi lăm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) vào tài khoản của bị đơn là xuất phát từ thoả thuận trong Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn ngày 20/8/2015 giữa Công ty Cổ phần P1 (gọi tắt là P1) với Công ty HL, nguyên đơn chuyển tiền vào tài khoản của ông Noriyuki S1 (ông Noriyuki S1 là thành viên của Công ty).
Do đó, khi phát sinh tranh chấp, cần phải xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng dịch vụ tư vấn, không phải đòi tài sản như cấp sơ thẩm xác định. Đồng thời chủ thể của Hợp đồng trên là Công ty Cổ phần P1 (gọi tắt là P1) và Công ty HL, việc nguyên đơn chuyển tiền vào tài khoản của bị đơn đã được cả nguyên đơn - Công ty Cổ phần P1 và bị đơn - ông Noriyuki S1 thừa nhận tại cấp sơ thẩm, cùng với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra đối với số tiền trên, phía ông Noriyuki S1 khai đã chuyển cho Công ty HL thể hiện qua: Báo cáo hoàn thành công việc, Biên bản họp hội đồng thành viên có xác nhận của các thành viên công ty - số tiền này ông S1 phải chịu trách nhiệm với Công ty HL. Nếu có tranh chấp thì chỉ có Công ty HL mới có quyền yêu cầu ông S1 hoàn trả vì đây là tiền của Công ty HL, còn nguyên đơn không có quyền. Phía nguyên đơn tại cấp sơ thẩm vẫn khẳng định chỉ khởi kiện bị đơn là ông Noriyuki S1 và đòi số tiền 24.000 USD tương đương 535.920.000 VNĐ vì chuyển vào tài khoản cá nhân của ông S1, không thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, cũng như không kháng cáo bản án sơ thẩm.
Do đó, khi nguyên đơn có tranh chấp đối với số tiền 24.000 USD tương đương 535.920.000 VNĐ, cần phải xác định bị đơn là Công ty HL, mà không phải ông Noriyuki S1, việc nguyên đơn khởi kiện ông Noriyuki S1 là không đúng, cần sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nếu thấy cần thiết nguyên đơn được quyền khởi kiện Công ty HL trong vụ án khác để giải quyết tranh chấp liên quan đến Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn ngày 20/8/2015.
Việc nguyên đơn cho rằng chỉ khởi kiện ông S1 với số tiền 24.000 USD tương đương 535.920.000 VNĐ và lãi suất với tư cách cá nhân, không xuất phát từ Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn ngày 20/8/2015 là không được chấp nhận, vì thực tế trong đơn khởi kiện và lời khai của đại diện cho nguyên đơn ở cấp sơ thẩm đã thể hiện rất rõ là xuất phát từ Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn ngày 20/8/2015.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc huỷ án là không có căn cứ, vì như nhận định nguyên đơn không thể khởi kiện bị đơn do xuất phát từ Hợp đồng nghiệp vụ tư vấn ngày 20/8/2015 ký kết giữa hai pháp nhân. Do đó không thể đưa Công ty HL vào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (họ chỉ có thể là bị đơn, không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan)
Từ những nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.089.228 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm tám mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm ứng 20.154.000 đồng (Hai mươi triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0093207 ngày 10/12/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Cổ phần P1 còn phải nộp 21.935.228 đồng (Hai mươi mốt triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) tiền án phí.
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho ông Noriyuki S1 theo Biên lai thu số 0007327 ngày 29/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn - ông Noriyuki S1. Sửa Bản án sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 04/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc Buộc ông Noriyuki S1 hoàn trả cho Công ty Cổ phần P1 số tiền đã nhận là 535.920.000 đồng và số tiền lãi là 467.054.280 đồng, tổng cộng là 1.002.974.280 đồng (Một tỷ không trăm lẻ hai triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn hai trăm tám mươi đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 42.089.228 đồng (Bốn mươi hai triệu không trăm tám mươi chín nghìn hai trăm hai mươi tám đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm ứng 20.154.000 đồng (Hai mươi triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0093207 ngày 10/12/2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Cổ phần P1 còn phải nộp 21.935.228 đồng (Hai mươi mốt triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm hai mươi tám đồng) tiền án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) cho ông Noriyuki S1 theo Biên lai thu số 0007327 ngày 29/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Đức |
Bản án số 561/2024/DS-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 561/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
