Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 560/2025/HS-PT

Ngày 17/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;

Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Thắng;

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 406/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Minh K và các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 723/2024/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Bùi Minh K, sinh ngày 31/3/1981 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số A, ngõ C đường K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Trung tâm Đ2; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C (tên khác: Bùi Trọng C1) và bà Phạm Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Thanh N và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt.
  2. Trần Khánh D, sinh ngày 26/12/1985 tại Nam Định; ĐKHKTT và nơi cư trú: Căn 1448 CT12A Khu đô thị K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Đ2; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D1 và bà Trần Thị T; có vợ là Nguyễn Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt.
  3. Phạm Văn B, sinh ngày 06/6/1987 tại Hưng Yên; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Đăng kiểm viên Trung tâm Đ2; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B1 và bà Hoàng Thị Đ; có vợ là Hoàng Thị Thanh V và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Đinh Anh T1 – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trung tâm Đ2 không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty cổ phần C3 được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0106753966, đăng ký lần đầu ngày 20/01/2015, đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 31/01/2020, người đại diện theo pháp luật của Công ty là bà Đỗ Thị C2 – Chủ tịch Hội đồng quản trị. Ngày 14/3/2016, Công ty C3 thành lập Trung tâm Đ2, địa chỉ: K, quốc lộ F, huyện C, thành phố Hà Nội. Ngày 18/3/2017, Cục Đ3 - Bộ G cấp Giấy chứng nhận số 2911D/ĐKVN-1 đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới. Trung tâm Đăng kiểm có 02 dây chuyền được hoạt động kiểm định, gồm: Dây chuyền số 01 là dây chuyền kiểm định loại II (đăng kiểm các phương tiện xe cơ giới có tải trọng trục dưới 2 tấn); Dây chuyền số 02 là dây chuyền kiểm định loại I (đăng kiểm các phương tiện hỗn hợp như xe tải, xe con...).

Trung tâm đăng kiểm có tổng số 12 người, trong đó: (1) Bùi Minh K là Đăng kiểm viên bậc cao, giữ chức vụ Giám đốc (thời gian từ ngày 21/3/2016 đến ngày 13/6/2023); (2) Trần Khánh D là Đăng kiểm viên bậc cao, giữ chức vụ Phó Giám đốc (thời gian từ ngày 20/6/2016 đến ngày 13/6/2023); (3) Phạm Văn B là Đăng kiểm viên bậc cao, phụ trách dây chuyền (thời gian từ năm 2016 đến ngày 13/6/2023); (4) Nguyễn Sỹ T2 là Đăng kiểm viên (thời gian từ tháng 4/2016 đến tháng 11/2023, từ tháng 11/2023 đến nay được bổ nhiệm là Phó Giám đốc Trung tâm Đ2); (5) Nguyễn Nga V1 là Đăng kiểm viên (thời gian từ tháng 10/2016 đến nay); (6) Đỗ Công T3 là Đăng kiểm viên (thời gian từ tháng 01/2020 đến ngày 13/6/2023, từ tháng 6/2023 đến nay được bổ nhiệm là Giám đốc Trung tâm Đ2); (7) Lê Xuân L là Đăng kiểm viên (thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2022).

Các nhân viên nghiệp vụ gồm: Nguyễn Trung H1, Vũ Tiến H2, Bùi Thị D2, Nguyễn Thị Hải Y và Nguyễn Thị Thùy D3 (kế toán).

Việc đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được thực hiện theo thông tư số 70/2015/TT-BGTVT ngày 09/11/2015 của Bộ G (Có hiệu lực từ ngày 01/01/2016), kể từ ngày 01/10/2021 được thực hiện theo Thông tư số 16/2021/TT-BGTVT ngày 12/8/2021 của Bộ G quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, theo đó:

  • Việc tiếp nhận hồ sơ kiểm định, thu phí kiểm định, trả kết quả được giao cho: Nguyễn Trung H1, Vũ Tiến H2, Nguyễn Văn H3, Bùi Thị D2, Nguyễn Thị Hải Y.
  • Việc kiểm tra, kiểm định chất lượng xe cơ giới: Gồm 05 công đoạn.

Hàng tháng, các Đăng kiểm viên gồm Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B, Đỗ Công T3, Nguyễn Sỹ T2, Nguyễn Nga V1 và Lê Xuân L thay nhau thực hiện việc kiểm định chất lượng xe cơ giới và phụ trách các công đoạn kiểm định.

Khoảng tháng 01/2017, Bùi Minh K, Trần Khánh D và Phạm Văn B đã bàn bạc, thống nhất với nhau, để tăng thêm thu nhập ngoài lương, trong quá trình các phương tiện xe cơ giới đến đăng kiểm, nếu phát hiện có các lỗi về phanh, khí thải, đèn tín hiệu, cơi nới thành, thùng...; các Đăng kiểm viên sẽ gợi ý để chủ phương tiện chi tiền bằng cách để tiền tại các khu vực như cốp tỳ tay, ghế phụ hoặc cốp bên ghế phụ... mục đích để các Đăng kiểm viên nhận tiền, bỏ qua các lỗi và làm thủ tục cấp đăng kiểm cho phương tiện. Nếu không thấy tiền để tại các khu vực trên, Đăng kiểm viên sẽ nhắc nhở và gợi ý, yêu cầu mang phương tiện đi sửa chữa. Chủ phương tiện hoặc người điều khiển phương tiện sẽ ngầm hiểu là phải đưa tiền cho Đăng kiểm viên để bỏ qua lỗi vi phạm, để tiền vào xe; Khoảng 01 đến 02 giờ sau đưa xe quay lại lấy đăng kiểm. Khi thấy tiền để trên xe, Đăng kiểm viên sẽ lấy ở công đoạn 4 là công đoạn kiểm tra khí thải và bỏ qua các lỗi vi phạm, để đăng kiểm đạt và cấp Giấy chứng nhận đăng kiểm cho phương tiện.

Đối với lỗi về khí thải: Theo quy trình kiểm định, Đăng kiểm viên phải cho đầu thiết bị đo cắm hết vào ống xả của phương tiện cơ giới để đảm bảo đầu đo hút được nhiều khí thải của phương tiện, như vậy kết quả mới chính xác nhất. Để bỏ qua lỗi khí thải, Đăng kiểm viên phụ trách công đoạn 4 chỉ đưa đầu thiết bị đo cắm ở mức độ rất nông vào ống xả phương tiện, nên đầu đo hút được ít khí thải, sẽ cho ra kết quả “đạt”. Với các phương tiện xe cơ giới sản xuất từ năm 1992 trở về trước, độ khói trung bình không vượt quá 72% HSU, phương tiện xe cơ giới sản xuất từ năm 1992 đến nay, độ khói trung bình không vượt quá 66,6% HSU;

Đối với lỗi liên quan đến thử lực phanh: Theo quy trình, khi phương tiện đã ở trên bệ thử phanh, Đăng kiểm viên chỉ đạp phanh một lần. Tuy nhiên, để bỏ qua lỗi, Đăng kiểm viên sẽ tiến hành đạp rà phanh hoặc đạp phanh nhiều lần để cho độ lệch của lực phanh dưới 25% (trên 25% là không đạt); về các lỗi đèn, xi nhan, kích thước thành, thùng xe: Lỗi này được các Đăng kiểm viên thực hiện kiểm tra thủ công bằng thước, mắt thường, nên được bỏ qua và tích vào phần đánh giá kết quả của phần mềm là “Đ1”.

Các chủ xe thường phải chi số tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng cho Đăng kiểm viên đối với các lỗi về phanh, khí thải, đèn tín hiệu... Đối với các xe tải, xe phooc, xe bán tải cơi nới thành thùng, mức chi là 500.000 đồng/xe.

Từ tháng 01/2017 đến tháng 10/2022, các chủ phương tiện đã đưa tiền cho các Đăng kiểm viên gồm: Nguyễn Sỹ T2, Nguyễn Nga V1, Đỗ Công T3, Lê Xuân L để bỏ qua lỗi vi phạm. Sau khi nhận tiền, kết thúc ngày làm việc, các Đăng kiểm viên sẽ chuyển toàn bộ số tiền thu được cho Phạm Văn B quản lý. K, D và B thống nhất hai lần/tháng (giữa tháng và cuối tháng), B sẽ chia đều số tiền thu được bằng tiền mặt cho 07 người dưới sự giám sát của Trần Khánh D, gồm: Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B, Nguyễn Sỹ T2, Nguyễn Nga V1, Đỗ Công T3 và Lê Xuân L. Ngoài 07 cá nhân trên, không có người khác được hưởng lợi. Công ty C3 và các nhân viên nghiệp vụ không được chia tiền hưởng lợi.

Theo dữ liệu từ phần mềm phương tiện cơ giới đường bộ lưu trữ tại Trung tâm Đăng kiểm 2911D từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/10/2022 xác định: Có khoảng 98.000 lượt phương tiện xe cơ giới đến đăng kiểm. Chủ phương tiện xe cơ giới, người đến đăng kiểm ở nhiều địa bàn tỉnh, thành phố như: Hòa Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Giang...

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ghi lời khai nhiều chủ phương tiện, lái xe ô tô đều thừa nhận đã nhiều lần đưa tiền trái quy định cho các Đăng kiểm viên tại Trung tâm Đ2 để được bỏ qua các lỗi như: Cơi nới thành, thùng, phanh, khí thải...

Các bị cáo khai nhận về số tiền số tiền nhận của các chủ phương tiện để các bị cáo bỏ qua lỗi khi đăng kiểm, cụ thể: Bùi Minh K được chia khoảng 200.000.000 đồng; Trần Khánh D được chia khoảng 300.000.000 đồng; Phạm Văn B được chia khoảng 200.000.000 đồng; Đỗ Công T3 được chia khoảng 150.000.000 đồng; Nguyễn Nga V1 được chia khoảng 130.000.000 đồng; Nguyễn Sỹ T2 được chia khoảng 200.000.000 đồng; Lê Xuân L được chia khoảng 92.000.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo được ăn chia là 1.272.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 723/2024/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  • + Bị cáo Bùi Minh K 04 năm 06 tháng tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • + Bị cáo Trần Khánh D 04 năm tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • + Bị cáo Phạm Văn B 03 năm 06 tháng tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Sỹ T2, Đỗ Công T3, Nguyễn Nga V1 và Lê Xuân L, quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo, giải thích quy định về chế định án treo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng trong ngày 19/12/2024, các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B có đơn kháng cáo đều với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo; các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B cùng về tội “Nhận hối lộ” theo điểm a khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng và các tình tiết giảm nhẹ mới mà các bị cáo xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm thì có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Bùi Minh K là các đối tượng cầm đầu, chủ mưu nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa; các bị cáo Trần Khánh D, Phạm Văn B giữ vai trò đồng phạm giúp sức, đã khắc phục hậu quả và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có cơ sở chấp nhận đề nghị được hưởng án treo của các bị cáo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Bùi Minh K từ 06 tháng – 01 năm tù; giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Khánh D 12 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Văn B 06 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo D, B.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và áp dụng pháp luật. Về hình phạt, đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho cả 03 bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị cáo Nguyễn Sỹ T2, Đỗ Công T3, Nguyễn Nga V1 và Lê Xuân L, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 đến hết tháng 10/2022, tại Trung tâm Đ2, địa chỉ: K, quốc lộ F, huyện C, thành phố Hà Nội, bị cáo Bùi Minh K - Giám đốc; Trần Khánh D - Phó Giám đốc và Phạm Văn B – Đăng kiểm viên bậc cao Phụ trách dây chuyền tại Tại trung tâm đăng kiểm 2911D, đã bàn bạc thống nhất nhận tiền để bỏ qua các lỗi về phanh, khí thải, đèn tín hiệu, cơi nới thành, thùng..., đối với các xe ô tô đến đăng kiểm tại trung tâm. Các bị cáo Nguyễn Sỹ T2, Đỗ Công T3, Nguyễn Nga V1 và Lê Xuân L, mặc dù không được tham gia bàn bạc, nhưng biết việc K, D và B đã thống nhất, phân công nhiệm vụ để cấu kết cùng nhau thực hiện việc gợi ý các chủ phương tiện đưa tiền để bỏ qua các lỗi của phương tiện được đăng kiểm thực hiện việc nhận tiền trái quy định. Tổng số các bị cáo đã nhận số tiền là 1.272.000.000 đồng, trong đó, bị cáo Bùi Minh K được chia hưởng lợi 200.000.000 đồng, Trần Khánh D được chia hưởng lợi 300.000.000 đồng, Phạm Văn B được chia hưởng lợi 200.000.000 đồng, Đỗ Công T3 được chia hưởng lợi 150.000.000 đồng, Nguyễn Nga V1 được chia hưởng lợi 130.000.000 đồng, Nguyễn Sỹ T2 được chia hưởng lợi 200.000.000 đồng và Lê Xuân L được chia hưởng lợi 92.000.000 đồng.

Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B về tội “Nhận hối lộ” theo điểm a khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B, HĐXX thấy:

[2.1]. Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn với vai trò và phải chịu trách nhiệm chính của người đứng đầu là bị cáo Bùi Minh K – Giám đốc; tiếp theo là Trần Khánh D - Phó Giám đốc; vai trò thứ ba là Phạm Văn B – Đăng kiểm viên bậc cao phụ trách dây chuyền và thấp nhất là các Đăng kiểm viên: Nguyễn Sỹ T2, Đỗ Công T3, Nguyễn Nga V1 và Lê Xuân L.

[2.2]. Các bị cáo đều là những người đã được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, trưởng thành từ các Trường, các lĩnh vực khác nhau; được giao trọng trách, nhiệm vụ kiểm định an toàn kỹ thuật và khí thải của các phương tiện xe cơ giới đường bộ nhằm bảo đảm trật tự trị an, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, vì sự bình yên của nhân dân và xã hội; các bị cáo đã lợi dụng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thực hiện không đúng các quy định của ngành; vi phạm các nguyên tắc, quy định, quy chế làm việc, công tác vi phạm đạo đức công vụ; vi phạm Luật Phòng chống tham nhũng và hơn hết là vi phạm các quy định của pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng; gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của các cơ quan, tổ chức liên quan; gây bức xúc trong dư luận, gây bất bình xã hội; vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi, hậu quả, vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng từng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[2.3]. Xem xét về hình phạt đối với các bị cáo, HĐXX thấy: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu; đã chủ động nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; các bị cáo đều được cơ quan, tổ chức nơi các bị cáo công tác xin giảm nhẹ hình phạt; Bị cáo Bùi Minh K gia đỉnh có công với cách mạng; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh éo le; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự từ đó xét xử các bị cáo hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới: Bị cáo Bùi Minh K có bố vợ là người có công với cách mạng, thương binh loại A, thương tật hạng bốn vĩnh viễn, bị cáo còn tham gia nhiều chương trình thiện nguyện, hiến máu tình nguyện; Bị cáo Trần Khánh D gia đình có công với cách mạng, ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, Chủ tịch UBND tỉnh N tặng thưởng bằng khen ông bà nội bị cáo về thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp, bị cáo tham gia nhiều chương trình thiện nguyện; Bị cáo Phạm Văn B tham gia nhiều chương trình thiện nguyện; ngoài ra, trong quá trình công tác, các bị cáo đều được Công ty cổ phần C3 tặng thưởng giấy khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; các bị cáo cũng đã nộp án phí hình sự sơ thẩm; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà HĐXX phúc thẩm xem xét áp dụng thêm cho các bị cáo.

Như vậy, xem xét tới nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, thái độ chấp hành pháp luật của các bị cáo khi đã chủ động nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; xét việc mặc dù các bị cáo nhiều lần thực hiện cùng một hành vi nhận hối lộ nhưng các lần nhận tiền đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, Các chủ xe thường chỉ phải chi số tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng/xe (chỉ đối với các xe tải, xe phooc, xe bán tải cơi nới thành thùng), không có lần nào nhận số tiền từ 2.000.000 đồng trở lên; do các bị cáo đã bị cộng dồn tổng số tiền đã nhận được xác định là 1.272.000.000 đồng nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng theo điểm a khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự; xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo éo le thì có cơ sở để HĐXX xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.4]. Đối với kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của các bị cáo, HĐXX thấy, với vai trò chủ mưu, cầm đầu, đối chiếu quy định pháp luật về chế định án treo thì bị cáo Bùi Minh K không đủ điều kiện để được hưởng án treo; do đó HĐXX không chấp nhận đề nghị được hưởng án treo của bị cáo Bùi Minh K, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết đấu tranh, phòng chống, trừng trị những cá nhân cầm đầu chủ mưu có hành vi đi ngược lại lợi ích của Nhà nước, của nhân dân và xã hội.

Đối với các bị cáo Trần Khánh D, Phạm Văn B, mặc dù đều là người có chức vụ hoặc được giao nhiệm vụ trong đồng phạm nhưng xét bản thân các bị cáo đều là cấp dưới, đều mang tính chất lệ thuộc, thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo của cấp trên nên tính chất, mức độ hành vi phạm tội có phần hạn chế hơn bị cáo Bùi Minh K; xét các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định, ngoài lần phạm tội này chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được chính quyền địa phương xác nhận nên việc cho các bị cáo được tự cải tạo tại địa phương không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, không gây nguy hại cho xã hội, HĐXX quyết định cho các bị cáo Trần Khánh D, Phạm Văn B được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 723/2024/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo, cụ thể:

  • - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
  • + Bị cáo Bùi Minh K 03 năm 06 tháng tù về tội “Nhận hối lộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
  • + Bị cáo Trần Khánh D 03 năm tù về tội “Nhận hối lộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
  • + Bị cáo Phạm Văn B 03 năm tù về tội “Nhận hối lộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Khánh D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; giao bị cáo Phạm Văn B cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục từng bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Các bị cáo Bùi Minh K, Trần Khánh D, Phạm Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyển

Bùi Anh Thắng

Nguyễn Tiến Dũng

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Các bị cáo (theo địa chỉ);
  • - UBND phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Minh Châu, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu: P. HCTP, HSVA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 560/2025/HS-PT ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (nhận hối lộ)

  • Số bản án: 560/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Nhận hối lộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Minh K cùng đồng phạm phạm tội "Nhận hối lộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger