Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

Bản án số: 560/2021/HSST
Ngày: 16/11/2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Khắc T1 Sơn
  2. Bà Trần Thị L Hương

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố TN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 569/2021/HSST ngày 25/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 574/2021/QĐXXST-HS ngày 29/10/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 7 năm 1991, tại TN; nơi đăng ký HKTT: Tổ 4, phường QT, thành phố TN, tỉnh TN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Đào Thị N; gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ tư; vợ Ma Thị M1, có 02 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 130/2009/HSST ngày 12/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố TN xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cướp giật tài sản”. Nộp án phí và bồi thường ngày 26/3/2012.

Tại Bản án số 42/2010/HSST ngày 17/11/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Công (nay là thành phố Sông Công) xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp 30 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 130/2009/HSST ngày 12/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố TN buộc T phải chấp hành chung hình phạt là 36 tháng tù, tính từ ngày tạm giam 14/10/2010. Ra trại ngày 19/4/2013. Nộp án phí ngày 04/3/2011.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị L, sinh năm 1978 (có mặt). Địa chỉ: Tổ 4, phường TD, TP TN, tỉnh TN

Ông Lê Tiến D, sinh năm 1977 (có mặt). Địa chỉ: Tổ 4, phường TD, TP TN, tỉnh TN

Người chứng kiến:

Ông Hoàng Thế C, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ 6, phường QT, TP. TN (vắng mặt)

Ông Trương Văn A, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ 10, phường ĐQ, TP. TN (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 55 phút, ngày 30/8/2021, tổ công tác Công an phường ĐQ, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1 của phường đã phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô BKS 20M5-9419 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến cất giấu ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu đứng lại kiểm tra, nam thanh niên khai tên Nguyễn Văn T. Quá trình kiểm tra T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng. T khai đó là ma túy dạng đá và hồng phiến. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 xe mô tô BKS 20M5-9419.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu giữ của T có khối lượng lần lượt là 0,095 gam và 0,110 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 1331/KL-KTHS ngày 08/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hồng phiến thu giữ của T gửi đến giám định đều là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng ban đầu lần lượt là 0,095 gam và 0,110 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 30/8/2021, T đi xe mô tô BKS 20M5 – 9419 đến khu vực Khách sạn Đông Dương thuộc phường ĐQ, thành phố TN với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, khi đến nơi T gặp một người đàn ông không quen biết, qua giao dịch T mua của người đàn ông đó 01 gói ma túy dạng đá và 01 viên nén hồng phiến với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đá và hồng phiến T cầm ở tay trái rồi đi tìm chỗ vắng người qua lại để sử dụng. Khi đến tổ 1 phường ĐQ, thành phố TN thì bị tổ công tác của Công an phường ĐQ, thành phố TN phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

  • 03 bì niêm phong ký hiệu T, T1, A.
  • 01 xe mô tô BKS 20M5 – 9419, số khung: RLHJF 24079Y029521, số máy JF24E-0033399, loại xe 50 – 175cm3.

Tại bản cáo trạng số 567/CT-VKSTPTN ngày 18/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi, 15 giờ 55 phút, ngày 30/8/2021, tại tổ 01 phường ĐQ, thành phố TN, Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,205 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường ĐQ, thành phố TN, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Bản cáo trạng số 567/CT-VKSTPTN ngày 18/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố Nguyễn Văn T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, mà ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án xét xử 02 lần về các tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo không lấy làm bài học mà tiếp tục sa vào con đường nghiện ma túy, do vậy cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về hình phạt: xử phạt Nguyễn Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 30/8/2021.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[2]. Về vật chứng:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 bì niêm phong ký hiệu T (Bì niêm phong chứa vỏ bao gói mẫu - Mặt sau bì có 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh TN).
  • 01 bì niêm phong ký hiệu T1 (Bì niêm phong chứa vỏ bao gói mẫu - Mặt sau bì có 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh TN).
  • 01 bì niêm phong ký hiệu A (Bì niêm phong chứa 0,072 gam chất ma túy - Mặt sau bì có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh TN).

2.2. Trả lại cho chị Vũ Thị L, địa chỉ: Tổ 4 phường TD, thành phố TN, tỉnh TN chiếc xe mô tô BKS 20M5 – 9419 màu sơn đen, nhãn hiệu Honda, số loại: + Lead, số khung: RLHJF 24079Y029521, số máy JF24E-0033399, dung tích xi Lh: 108, số chỗ ngồi 02, loại xe 50-175cm3.

[3]. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

[4]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh TN
- VKSND TP. TN;
- Công an TP. TN;
- TAND tỉnh TN;
- THADS TP. TN;
- THA hình sự;
- Sở Tư pháp tỉnh TN;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Lê Quý My
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 560/2021/HSST ngày 16/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 560/2021/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger