Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/DS-PT

Ngày: 31/7/2024

“V/v Tranh chấp đất đai theo quy

định của pháp luật về đất đai”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh

Các Thẩm phán: ông Phạm Duy Hải

ông Tạ Duy Ước

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 88/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Đình H, sinh năm 1942.

    Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn H1, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 22/7/2024 được công chứng tại VPCC M). Có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1963.

    Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1995. Địa chỉ: tổ D, V, V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (văn bản uỷ quyền ngày 30 tháng 01 năm 2024), có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

      Địa chỉ: khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

      Đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Huy T, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

      Đại diện theo uỷ quyền: bà Hoàng Thị H3, chức vụ: Công chức địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (văn bản uỷ quyền ngày 04 tháng 12 năm 2023), vắng mặt (có đơn đề nghị Toà án xét xử mặt).

    • + Ủy ban nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

      Địa chỉ: phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

      Đại diện theo pháp luật: ông Phạm Tuấn Đ, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

      Đại diện theo uỷ quyền: bà Hoàng Thị Khánh L, chức vụ: Chuyên viên phòng T8 (văn bản uỷ quyền ngày 08 tháng 11 năm 2023), có mặt.

    • + Anh Trần Văn B, sinh năm 1978.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt).

  4. Người làm chứng:

    • Bà Bùi Thị B1, sinh năm 1955.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Bà Phạm Thị V, sinh năm 1964.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1969.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Bùi Văn K, sinh năm 1942.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Lê Thế A, sinh năm 1976.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Bà Trần Thị Ý, sinh năm 1962.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Ông Trần Văn H4, sinh năm 1977.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Bà Hầu Thị K1, sinh năm 1964.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Bà Phạm Thị M, sinh năm 1938.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1970.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Bà Trần Thị S, sinh năm 1938.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Bà Phạm Thị L2, sinh năm 1970.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Trần Văn C1, sinh năm 1977

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.).

    • Ông Trần Văn H5, sinh năm 1965.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Hoàng Văn C2, sinh năm 1968.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Phạm Văn P, sinh năm 1967.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Bà Đào Thị N, sinh năm 1958.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1947.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Ông Đặng Thành C3, sinh năm 1969.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    • Ông Hầu Văn P1, sinh năm 1932.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Đào Xuân Q, sinh năm 1952.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Vũ Văn T4, sinh năm 1941.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

    • Ông Vũ Văn C4, sinh năm 1940.

      Địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

    Người kháng cáo: bị đơn ông Trần Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 6 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Đình H trình bày:

Thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U có nguồn gốc là ruộng hoang, ông H khoang hoang và sử dụng trước những năm 1980 cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất từ trước đến nay, ông H có trồng rau, trồng lúa, cây hoa mầu và trồng chuối. Toàn bộ diện tích đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc bất cứ giấy tờ nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đất cho ông H. Trong quá trình sử dụng từ trước đến nay dân làng, thôn xóm đều biết và những người làm chứng đã xác nhận cho ông H, hơn nữa năm 2011 bản thân ông C và ông trưởng khu B là ông Phạm Văn H6 cũng xác nhận là đất của ông H. Năm 2020 ông H lên Ủy ban nhân dân phường Y gặp bộ phận địa chính, và có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lúc đó ông H mới biết thửa đất này đứng tên ông Trần Văn C, ông H có đề nghị phường Y đính chính nhưng Ủy ban nhân dân phường Y không đính chính. Nay ông H yêu cầu ông Trần Văn C phải trả lại ông H diện tích đất 316,6m², sau khi đo đạc hiện trạng còn lại là 311,2m² và đề nghị Toà án tuyên cho H được quyền sử dụng thửa đất trên, đồng thời ông H đề nghị xử lý tài sản gắn liền với đất là giao cho ông H sở hữu ngõ đi chung, tường gạch vỉ và cây chuối, ông H thanh toán lại cho ông C giá trị của ngõ đi chung.

Tại các bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Văn C trình bày: Thửa đất số 88 và 89 tờ bản đồ số 83 có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U có nguồn gốc năm 1976 là ruộng của hợp tác xã, sau khi quy hoạch cánh đồng rau, hợp tác xã chỉ chỗ cho bố mẹ ông C là cụ Trần Văn K2 và cụ Đào Thị P2 vào làm ở địa điểm này, việc này không có giấy tờ. Đến năm 1992 cụ K2 và cụ P2 cho ông C và đã đứng tên trên bản đồ năm 1992, việc cho này không có văn bản giấy tờ. Đến năm 2005 gia đình làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu vực đó nhưng Ủy ban nhân dân thị xã U mới cấp diện tích đất cho mẹ ông H là bà Đào Thị P2 thửa đất liền kề với thửa đất số 88, 89. Còn thửa đất số 88, 89 đến thời điểm hiện tại chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại danh sách công khai ngày 11/8/2005 của Ủy ban nhân dân phường Y đã xác nhận ông C được sử dụng thửa đất số 88 từ năm 1992. Từ năm 2004 cho đến nay, ông C thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đất nhà ở, trong đó có đóng thuế cho thửa đất số 88, tờ bản đồ 83, diện tích 316,6m². Nay ông H khởi kiện yêu cầu ông C trả lại diện tích đất 316,6m², sau khi đo đạc hiện trạng còn lại là 311,2m², ông C không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường Y, đại diện theo uỷ quyền là bà Hoàng Thị H3 trình bày:

Về nguồn gốc đất, diễn biến quá trình sử dụng thửa đất số 88, tờ bản đồ địa chính số 83 tại khu B, phường Y: Thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² khi đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 đã quy chủ đứng tên ông Trần Văn C, việc xác định sử dụng đất để đo đạc bản đồ địa chính do đơn vị đo vẽ đo và xác lập. Việc quy chủ này chỉ mang tính chất tạm thời, kê khai chủ sử dụng đất chứ chưa có cơ sở chúng minh ông Trần Văn C là chủ sử dụng đất hợp pháp. Tuy nhiên qua xác minh và kiểm tra thực tế, tại thửa đất số 88, ông Trần Đình H là người đang sử dụng và canh tác liên tục từ khi sử dụng cho đến nay. Đối với thửa đất này, Ủy ban nhân dân phường Y chưa xét duyệt nguồn gốc đất. Đối với danh sách chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005, trong đó có tên ông Trần Văn C, việc niêm yết này là tiền đề để Ủy ban nhân dân phường Y xét duyệt nguồn gốc đất. Về nội dung ông Trần Văn C trình bày việc ông đã đóng thuế đất ở đối với thửa đất trên: Qua xem xét hồ sơ và các biên lai đóng thuế của ông Trần Văn C là đóng thuế cho thửa đất số 105 tờ bản đồ 83 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 564075, số vào sổ H00291 do UBND thị xã U cấp ngày 16/8/2006 không phải là thửa đất số 88 tờ bản đồ số 83 mà ông Trần Văn C đang tranh chấp. Ủy ban nhân dân phường Y đề nghị ông Trần Đình H và ông Trần Văn C thực hiện đúng theo biên bản làm việc tại cuộc họp giải quyết đơn kiến nghị của ông Trần Đình H ngày 08/7/2020 và đã thống nhất việc hai gia đình gộp 02 thửa đất số 88, diện tích 316,6m² và thửa số 89, diện tích 309,5m². Tự thuê đơn vị đo vẽ để đo lại diện tích, có kết quả đo vẽ hai gia đình tự thỏa thuận chia về diện tích và kích thước, chuyển về UBND phường xác nhận để làm cơ sở cho gia đình quản lý. Nếu hai bên không đồng ý và vẫn có đơn thư kiến nghị, đề nghị ông Trần Văn C và ông Trần Đình H tiếp tục cung cấp toàn bộ các giấy tờ chứng minh đến thửa đất số 88, tờ bản đồ địa chính số 83 là thửa đất của gia đình để có cơ sở giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố U, đại diện theo uỷ quyền là bà Hoàng Thị Khánh L trình bày: Căn cứ nguồn gốc đất do Ủy ban nhân dân phường Y xác định và hồ sơ tài liệu có liên quan, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quá trình trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Uông Bí đã tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ:

  • - Ngày 08 tháng 6 năm 2023, Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất có tranh chấp, đã xác định được như sau: Thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, có diện tích thực tế là 311,2m² (toàn bộ diện tích đất này là đất cây lâu năm), địa chỉ thửa đất tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh có tứ cận tiếp giáp: phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H5, phía Nam giáp đất bà Bùi Thị B1. Về tài sản trên đất có: Tường gạch xỉ có kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m; ngõ láng xi măng có đánh mầu: 13,72m x 0,8m; cây chuối gồm có: 45 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 20cm, 15 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 15cm đến 20cm và 11 cây chuối đường kính thân nhỏ hơn 15cm.

  • - Ngày 26 tháng 01 năm 2024, Toà án tiến hành định giá tài sản, kết quả như sau: Diện tích 311,2m² đất cây lâu năm có giá trị là 17.116.000đồng (mười bảy triệu, một trăm mười sáu nghìn đồng); T5 gạch xỉ có kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m = 3,48m³ có giá trị là 2.958.000 đồng (hai triệu chín trăm năm mươi tám nghìn đồng); ngõ láng xi măng có đánh mầu: 13,72m x 0,8m = 10,98m² có giá trị là 722.704 đồng (bảy trăm hai mươi hai nghìn bày trăm linh bốn đồng); 45 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 20cm có giá trị là 3.690.000đồng (ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng); 15 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 15cm đến 20cm có giá trị 915.000 đồng (chín trăm mười lăm nghìn đồng); 11 cây chuối đường kính thân nhỏ hơn 15cm có giá trị là 341.000 đồng (ba trăm bốn mươi mốt nghìn đồng). Tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 25.742.704 đồng (hai mươi lăm triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn bày trăm linh bốn đồng).

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Đình H có nộp cho Toà án văn bản xác nhận của bà Bùi Thị B1, ông Bùi Văn K, anh Trần Văn B, anh Lê Đức A1, bà Trần Thị Ý, anh Trần Văn H4, bà Hầu Thị K1, bà Phạm Thị M, anh Phạm Văn T1, bà Trần Thị S, chị Phạm Thị L2, anh Trần Văn C1, anh Trần Văn H5, anh Hoàng Văn C2, bà Phạm Thị V, ông Phạm Văn P, bà Nguyễn Thị L1, anh Nguyễn Văn T2 và bà Đào Thị N, những người có tên nêu trên đều trình bày với nội dung: Nguồn gốc đất của thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m2 tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (sau khi xem xét, thẩm định lại còn 311,2m² có tứ cận tiếp giáp: phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H5, phía Nam giáp đất bà Bùi Thị B1. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980, ông H là người đầu tiên khai hoang và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Toàn bộ diện tích đất này ông H đã canh tác trồng lúa, cấy rau muốn, cây hòa mầu và thời gian gần đây có trồng chuối.

Toà án nhân dân thành phố Uông Bí làm việc với nhưng người có tên nêu trên, kết quả như sau:

Tại biên bản làm việc ngày 07/3/2024, Toà án làm việc với bà Bùi Thị B1, bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị L1, bà Trần Thị Ý, ông Trần Văn H4, bà Hầu Thị K1, bà Trần Thị S, ông Phạm Văn P, ông Nguyễn Văn T2, bà Đào Thị N, nội dung như sau:

Phần trình bày về mối quan hệ của người làm chứng với nguyên đơn và bị đơn, cung cấp thông tin cho Toà án biết thời điểm cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ thời điểm nào?

  • Bà Bùi Thị B1 trình bày: Bà B1 và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C, có quan hệ là hàng xóm, không có mâu thuẫn gì với nhau. Bà B1 cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1976 đến nay.

  • Bà Phạm Thị V trình bày: Bà V và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C có quan hệ là hàng xóm, không có mâu thuẫn gì với nhau. Bà V cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ những năm 1970 đến nay.

  • Bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà L1 và ông Trần Đình H, ông Trần Văn c quan hệ là hàng xóm, không có mâu thuẫn gì với nhau. Bà L1 cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ những năm 1960 đến nay.

  • Bà Trần Thị Ý trình bày: Bà Ý và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C có quan hệ là họ hàng cả hai bên, không có mâu thuẫn gì với nhau. Bà Ý cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ những năm 1962 đến nay.

  • Ông Trần Văn H4 trình bày: Anh H4 là con của ông Trần Đình H và có quan hệ họ hàng với ông C. Anh H4 cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1977 đến nay.

  • Bà Hầu Thị K1 trình bày: Bà K1 và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C có quan hệ là hàng xóm, và không có mâu thuẫn gì với nhau. Bà K1 cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ trước đến nay.

  • Bà Trần Thị S trình bày: Bà S và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C, có quan hệ là chị gái và không có mâu thuẫn gì với nhau. Bà S cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ những năm 1940 đến nay.

  • Ông Phạm Văn P trình bày: Ông P và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C có quan hệ là hàng xóm, không có mâu thuẫn gì với nhau. Ông P cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ những năm 1970 đến nay.

  • Ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Ông và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C có quan hệ là hàng xóm, không có mâu thuẫn gì với nhau. Ông T2 cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1976 đến nay.

  • Bà Đào Thị N trình bày: Bà N và ông Trần Đình H, ông Trần Văn C có quan hệ là hàng xóm, không có mâu thuẫn gì với nhau. bà N cư trú tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1983 đến nay.

Về xác định nguồn gốc đất của thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (sau khi xem xét, thẩm định lại còn 311,2m²?

Tất cả những người làm chứng có tên trong biên bản đều trình bày với nội dung là Thửa đất trên có tứ cận tiếp giáp: phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H5, phía Nam giáp đất bà Bùi Thị B1 (tại văn bản xác nhận ngày 20/12/2023 có ghi phía tây giáp đất nhà anh Trần Văn B và giáp ruộng một số người khác là chưa chính xác, cụ thể phía Tây giáp đường đất). Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980, ông H là người đầu tiên khai hoang và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Toàn bộ diện tích đất này ông H đã canh tác trồng lúa, cấy rau muống, cây hoa mầu và thời gần đây có trồng chuối.

Toà án đã tiến hành lấy lời khai làm chứng phía ông Trần Đình H cung cấp, kết quả như sau:

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, bà Phạm Thị M cho biết như sau: Bà Phạm Thị M là hàng xóm của ông H và ông C, bà M không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Bà M sinh sống nhiều năm ở khu B, phường Y, thành phố U, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², vị trí thửa đất trên như sau: phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Tây giáp đường đất, phía Nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông H5. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980 cho đến nay. Bà M đề nghị ông C trả lại mảnh đất trên cho ông H.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, anh Phạm Văn T1 cho biết như sau: Anh Phạm Văn T1 là hàng xóm của ông H và ông C, anh T1 không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Anh T1 lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², có tứ cận tiếp giáp như sau: phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Tây giáp đường đất, phía Nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông H5. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980, ông H là người khai hoang và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Anh T1 đề nghị Toà án tuyên trả lại diện tích đất này cho ông H.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, ông Bùi Văn K cho biết như sau: Ông Bùi Văn K là hàng xóm của ông H và ông C, ông K không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Ông K sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², có tứ cận tiếp giáp như sau: phía đông giáp đất ông Trần Văn C, phía tây giáp đường đất, phía nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông H5. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980 và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Ông K đề nghị Toà án tuyên trả lại diện tích đất này cho ông H.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, ông Trần Văn C1 cho biết như sau: Ông Trần Văn C1 có quan hệ họ hàng của ông H và ông C, ông C1 không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Ông C1 sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², có tứ cận tiếp giáp như sau: phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Tây giáp đường đất, phía Nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông H5. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980 và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Ông C1 đề nghị Toà án tuyên trả lại diện tích đất này cho ông H.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, ông Hoàng Văn C2 cho biết như sau: Ông Hoàng Văn C2 là hàng xóm của ông H và ông C, ông C2 không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Ông C2 sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², có tứ cận tiếp giáp như sau: phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Tây giáp đường đất, phía Nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông H5. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980 và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Ông C2 đề nghị Toà án tuyên trả lại diện tích đất này cho ông H.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, bà Phạm Thị L2 cho biết như sau: Bà Phạm Thị L2 là hàng xóm của ông H và ông C, bà L2 không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Bà L2 sinh sống ở khu B, phường Y, thành phố U từ khi còn trẻ cho đến nay, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², có tứ cận tiếp giáp như sau: phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Tây giáp đường đất, phía Nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông H5. Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông H khai hoang trước những năm 1980 và sử dụng ổn định diện tích đất này từ đó cho đến nay. Bà L2 đề nghị Toà án đất của ai thì trả lại cho người đó.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 09/3/2024, ông Lê Thế A cho biết như sau: Ông Lê Thế A là người cùng làng của ông H và ông C, ông Thế A không mâu thuẫn gì với ông H và ông C. Ông Thế A sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, về vị trí thửa đất 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m², có tứ cận tiếp giáp như sau: phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Nam giáp nhà bà B1, phía phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H5. Toàn bộ diện tích đất này do ông H khai hoang và sử dụng ổn định trước năm 1980 đến nay. Ông Thế A đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn C cung cấp tài liệu là Biên bản xác nhận nguồn gốc sử dụng đất ngày 14/12/2023, kèm theo lời xác nhận, chữ ký của hộ giáp danh, đồng thời giao nộp các bản tự khai như sau

Tại bản tự khai ngày 19/12/2023, Nguyễn Công T3 trình bày nội dung: Năm 1976, ông ở bộ đội về, cụ Trần Văn K2 và cụ Đào Thị P2 chuyển sang ở canh tác khu đất mới thuộc tổ A, khu B, phường Y. Từ năm 1976 đến nay ông T3 không thấy ông Trần Đình H canh tác trên thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 bản đổ địa chính phường Y, ngoài cụ K2 và cụ P2, ông không thấy ai canh tác trên diện tích đất này.

Tại bản tự khai ngày 19/12/2023, ông Đặng Thành C3 trình bày: Năm 2005, ông C3 làm trưởng khu B, phường Y, vào năm đó, nhà nước đã quy chủ đất tới từng hộ dân, đối với thửa đất số 88 và 89 của gia đình cụ P2 đã quy chủ cho cháu nội là Trần Văn L3 và bố anh L3 là Trần Văn C là giám hộ. Sau khi quy chủ, Ủy ban nhân dân phường Y đã xét duyệt và quy chủ cho cho anh Trần Văn L3 (là cháu nội của cụ P2), tổ xét duyệt đã đồng ý và danh sách đã được niêm yết tại khu B, phường Y là đúng, trong thời gian niêm yết danh sách quy chủ, không có tranh chấp hay khiếu kiện.

Tại bản tự khai ngày 19/12/2023, ông Hầu Văn P1 trình bày: Năm 1976, ông P1 là đội trưởng Hợp tác xã nông nghiệp: Nguồn gốc thửa đất số 88, 89 tờ bản đồ số 83 là do ông P1 chỉ định từ những năm 1976 cho bố mẹ ông C là ông Trần Văn K2 và bà Đào Thị P2, trước kia bố mẹ ông C ở mảnh thổ cư ở thôn B, Hợp tác xã Y, ngoài ra ông Trần Đình H không thường trú, định cư tại địa chỉ thửa đất nêu trên, ông Trần Đình H không khai hoang.

Tại bản tự khai ngày 19/12/2023, ông Đào Xuân Q trình bày: Từ năm 1984 đến năm 1987, ông Q là thư ký đội sản xuất Hợp tác xã Y1. Về nguồn gốc thửa đất số 88, tờ bản đồ địa chính số 83 là do ông Hầu Văn P1 chỉ định chuyển đổi đất ở cho ông Trần Văn K2 và bà Đào Thị P2 là bố mẹ của ông Trần Văn C. Tại thời điểm ông Q làm thư ký, ông Q không biết ông Trần Văn H7. Năm 1992 có đợt kiểm đếm quy chủ, Ủy ban nhân dân thành phố U và xã P có kiểm đếm lại nguồn gốc đất trên không có tên của ông Trần Văn H7.

Biên bản xác nhận nguồn gốc sử dụng đất ngày 14/12/2023 xác nhận nội dung: Năm 1984, ông C4 làm chủ tịch Hội nông dân xã P, đến năm 1993 thì nghỉ hưu. Ông C4 được biết cụ Trần Văn K2 và cụ Đào Thị P2, do quy hoạch cánh đồng rau nên Hợp tác xã chuyển hộ cụ K2 về cánh đồng của làng từ năm 1976 đến nay, thửa đất số 88 và 89 là vườn đất của cụ Trần Văn K2 và cụ Đào Thị P2, hiện con trai cụ đang làm đơn xin cấp đất xây dựng là đúng sự thật và ông Vũ Văn T4 xác nhận nội dung: Đất hiện nay đang ở là chuyển đổi đất vườn di chuyển từ năm 1976 do Hợp tác xã trả vườn có mảnh đất 88, 89 tờ bản đồ số 83, hiện nay con cụ K2 và cụ P2 đang ở

Toà án đã tiến hành lấy lời khai làm chứng phía ông Trần Văn C cung cấp, kết quả như sau:

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 17/3/2024, ông Vũ Văn T4 cho biết như sau: Ông Vũ Văn T4 có quan hệ họ hàng bên ngoại với cả ông H7 và ông C, ông T4 không mâu thuẫn gì với ông H7 và ông C. Ông T4 sinh ra và lớn lên tại khu B, phường Y, thành phố U, đối với thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, ông T4 chỉ biết tiếp giáp với đất nhà anh H5, còn lại ông không nắm được. Ông không biết cụ thể diện tích đất này là bao nhiêu m², ông chỉ nhớ năm 1976 hợp tác xã quy hoạch cánh đồng rau chuyển các hộ dân đến một chỗ và giao cho ông K2 và bà P2 (là bố mẹ của ông C), việc giao đất này có giấy tờ hay không, ông không biết, diện tích đất giao cho ông K2 và bà P2 nằm ở khu vực đất có tranh chấp. Ông T4 chỉ biết thửa đất số 88, 89 khi ngày 16/12/2023 ông C mang văn bản đến và chỉ cho ông biết chứ từ trước đến nay ông T4 không biết vị trí thửa đất số 88, 89 nằm ở đâu. Ông T4 có ý kiến thêm do sức khoẻ yếu nên xin được vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm và giữ nguyên lời khai trên.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 18/3/2024, ông Hầu Văn P1 cho biết như sau: Ông Hầu Văn P1 là người ở khu B, không có quan hệ họ hàng ông H7 và ông C, ông P1 không mâu thuẫn gì với ông H7 và ông C. Đối với bản tự khai ngày 19/12/2023 ông thừa nhận có điểm chỉ vào bản tự khai này, đối với bản tự khai này, ông nhớ có một ngày, có một nam thanh niên đến gặp ông, nam thanh niên này không giới thiệu về mình mà chỉ nói nhờ ông xác nhận, ông có điểm chỉ vào bản tự khai trên. Về vị trí thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 ông không biết, đồng thời ông P1 trình bày: năm 1976 ông có chỉ định đất cho cụ K2 và cụ P2, đối với thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông C đã làm nhà và sinh sống trên thửa đất này, còn thửa đất số 88, 89 ông không biết cụ thể ở đâu. Ông thừa nhận đã cung cấp các thông tin chưa chính xác trong bản tự khai ngày 19/12/2023, lý do lúc đó ông mệt, người thanh niên nhờ ông xác nhận và ông nghĩ đơn giản là xác nhận cho xong còn nghỉ ngơi. Ông P1 có ý kiến thêm hiện nay đang bị ốm, sức khoẻ yếu nên xin được vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 17/3/2024, ông Nguyễn Công T3 cho biết như sau: Ông T3 là người cùng làng với ông H7 và ông C, sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, ông không có mâu thuẫn gì với ông H7 và ông C, vị trí thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, ông không nắm được đất này tiếp giáp với ai, trong bản tự khai ngày 19/12/2023 ông khai thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 do cụ K2 và cụ P2 canh tác, ông khai như vậy vì ông chỉ biết khu vực đất có tranh chấp, chứ cụ thể thế nào ông không biết. Ngoài ra ông T3 còn khai: Năm 1976, cụ K2 và cụ P2 chuyển đến khu vực tổ A, khu B, phường Y, thành phố U sinh sống, đối với thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 ông cũng không nắm rõ được đất có nằm trong đất của cụ K2 và cụ P2 hay không, ông chỉ biết số hiệu thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 là do ngày 19/12/2023 ông C đến nhà và đọc cho ông biết, chứ thực tế về vị trí tiếp giáp cụ thể với ai, diện tích bao nhiêu m2 ông T3 không nắm được.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 17/3/2024, ông Đặng Thành C3 cho biết như sau: Ông C3 là hàng xóm, láng giềng với ông H7 và ông C, sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, ông không có mâu thuẫn gì với ông H7 và ông C, vị trí thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 có vị trí tiếp giáp với đất nhà anh H5, bà B1, giáp đường đất, ngoài ra giáp với đất của cụ K2 và cụ P2. Về nguồn gốc đất là cụ K2 và cụ P2 cho anh Trần Văn L3 (là con của ông C). Giai đoạn năm 2005, ông làm khu trưởng, thời điểm này, nhà nước có đo đất quy chủ đến từng hộ dân, trong đó có quy chủ đất cho anh Trần Văn L3, thời điểm này, Ủy ban nhân dân phường Y đã xét duyệt nguồn gốc đất, ông C3 không xuống thực địa mà chỉ ở trên phường cùng xem xét hồ sơ.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 19/3/2024, ông Vũ Văn C4 cho biết như sau: Ông C4 có quan hệ họ hàng bên ngoại với ông H7 và ông C, ông sinh ra và lớn lên ở khu B, phường Y, thành phố U, ông không có mâu thuẫn gì với ông H7 và ông C, ông không biết vị trí thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² tiếp giáp với đất của ai, ông chỉ biết đất này nằm ở khu vực có đất của cụ K2 và cụ P2, ngoài ra ông C4 khai năm 1976, hợp tác xã Y1 lại cánh đồng rau và có cấp cho cụ K2 và cụ P2 (là bố mẹ của ông C) 01 thửa đất hiện nay ông C đang sinh sống trên đất đó, ông không nắm rõ thửa đất số 88 + 89 nằm chính xác ở vị trí nào. Ông C4 xin được vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

  • Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 20/5/2024, ông Đào Xuân Q cho biết như sau: Ông Q là người cùng làng, không có quan hệ gì và không mâu thuẫn với ông H7 và ông C, ông Q sống ở khu B từ năm 1954 cho đến nay. Ông biết vị trí thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² có vị trí tiếp giáp: phía Bắc giáp đất nhà anh H5, phía Nam giáp đất nhà bà Bùi Thị B1, phía Tây giáp đường đất và phía Đông giáp nhà ông C. Về nguồn gốc diện tích đất trên, ông không biết. Về lý do tại bản tự khai ngày 19/12/2023 ông khai nguồn gốc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 là do ông Trần Văn C và 01 nam thanh niên mang mẫu bản tự khai và hướng dẫn ông khai, chứ thực tế ông Q không biết nguồn gốc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83. Đồng thời ông Q xin được vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 11 tháng 3 năm 2024, ông Phạm Văn H6 là trưởng khu B, phường Y, thành phố U cung cấp thông tin như sau: Ông được biết thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh do ông Trần Đình H sử dụng từ năm 2006 đến nay, còn từ năm 2006 trở về trước, ông H6 không biết là của ai. Tại văn bản giấy xin xác nhận đất vườn ngày 26/3/2011 của ông Trần Đình H có thể hiện 01 ô đất diện tích ghi 302m², ô đất này chính là thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Ông H6 có xác nhận vào đơn xin xác nhận đất vườn của ông Trần Đình H.

Tại bản tự khai ngày 15/4/2024, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn B trình bày: Khoảng năm 2004, anh có hỏi ông H và ông H đồng ý cho mượn đất để xây bờ be đường, sau khi ông H đồng ý, anh B đã xây tường gạch xỉ theo chiều dài của thửa đất, việc mua vật liệu và xây dựng do một minh anh làm, anh B xin phép ông H vì từ lúc anh lớn lên đã thấy ông H canh tác sử dụng diện tích đất này, nay anh B có quan điểm nếu Toà án giao đất cho ông H hoặc ông C thì một trong hai ông phải thanh toán lại giá trị chênh lệch của bức tường gạch xỉ anh B đã xây theo giá trị mà Hội đồng định giá đã định giá. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/5/2024 anh Trần Văn B có đơn đề nghị Toà án tách yêu cầu này của anh B ra và giải quyết bằng vụ án khác (anh B và ông H sẽ tự thoả thuận với nhau về giá trị của bức tường), đồng thời anh B đề nghị Toà án giao bức tường trên cho ông H sở hữu. Ngoài ra anh B có ý kiến xin được vắng mặt tại các buổi làm việc với Toà án, xin vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, xin vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm đề nghị Toà án xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Ông Trần Đình H đồng ý với quan điểm của anh Trần Văn B.

Ông Trần Văn C có quan quan điểm tại đơn trình bày ngày 06/5/2024 với nội dung tường gạch xỉ xây trên phần đất tranh chấp là do ông C xây dựng từ năm 1994 - 1995, anh B không liên quan gì đến mảnh đất tranh chấp.

Liên quan đến việc giải quyết vụ án, về phía nguyên đơn ông Trần Đình H các con của ông H gồm: anh Trần Văn S1, sinh năm 1970, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; anh Trần Văn H1, sinh năm 1971, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, chị Trần Thị Q1, sinh năm 1973, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, chị Trần Thị H8, sinh năm 1975, địa chỉ: tổ C, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, anh Trần Văn H4, sinh năm 1977, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh đều trình bày là con ông Trần Đình H và bà Hoàng Thị M1 (bà M1 mất năm 2010). Đối với thửa đất số 88, tờ bản đồ địa chính số 83, diện tích đất 311,2m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, những người có tên nêu trên đều có ý kiến đây là thửa đất chỉ do một mình ông H khai hoang và sử dụng ổn định từ trước năm 1980 đến nay, đều có đơn xin từ được từ chối tham gia tố tụng và đề nghị Toà án không đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Liên quan đến việc giải quyết vụ án, về phía bị đơn ông Trần Văn C: ông Trần Văn Y, sinh năm 1958, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước (là con của ông Trần Văn K2 và bà Đào Thị P2); ông Trần Văn Q2, sinh năm 1954, địa chỉ: khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (là con của ông Trần Văn K2 và bà Đào Thị P2); bà Trần Thị C5, sinh năm 1949, địa chỉ: tổ G, khu C, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (là con của ông Trần Văn K2 và bà Đào Thị P2); anh Trần Văn L3, sinh năm 1990, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (là con của ông Trần Văn C); anh Trần Văn L4, sinh năm 1993, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (là con của ông Trần Văn C); anh Trần Văn H9, sinh năm 1988, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (là con của ông Trần Văn C) và bà Đỗ Thị T6, sinh năm 1965, địa chỉ tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh (là vợ của ông Trần Văn C) đều có đơn từ chối tham gia tố tụng, đều trình bày không liên quan đến thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 thuộc bản đồ địa chính phường Y và mọi vấn đề do ông Trần Văn C quyết định nên Hội đồng xét xử không đề cập

Ngày 21/01/2024, Toà án nhân dân thành phố Uông Bí tiến hành xác minh, làm việc với Xí nghiệp T9 – Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên T10, ông Đoàn Minh P3 là Phó giám đốc đã cung cấp thông tin như sau: Ngày 11/11/2004 Xí nghiệp T11 (nay là Xí nghiệp T9) có tiến hành khảo sát, xác định ranh giới, mốc giới đối với thửa đất số 88, tờ bản đồ địa chính số 83, địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, trong đó xác định diện tích đất 316,6m² đứng tên ông Trần Văn C. Việc quy chủ diện tích đất trên đứng tên ông Trần Văn C được thực hiện trên cơ sở ông tổ trưởng tổ dân phố là ông Trần Hồng T7 là người dẫn đạc, chủ sử dụng là ông Trần Văn C là người chỉ mốc giới, cung cấp thông tin. Đồng thời có ký giáp ranh của ông Trần Văn L3 và bà Bùi Thị B1. Việc quy chủ này chỉ mang tính chất tạm thời, kê khai chủ sử dụng đất chứ chưa có cơ sở chứng minh ông Trần Văn C là chủ sử dụng đất hợp pháp. Tại thời điểm đo đạc, người đo đạc là ông Trần Quang P4, tuy nhiên ông P4 đã chết.

Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và người làm chứng có mặt tại phiên toà giữ nguyên lời trình bày như trên.

Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố U là bà Hoàng Thị Khánh L trình bày ý kiến: Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền và trách nhiệm xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân (bao gồm: Đối tượng sử dụng đất, quá trình sử dụng đất, thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định, mục đích sử dụng đất, hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai, sự phù hợp với quy hoạch và những nội dung khác có liên quan) theo quy định tại khoản 4, Điều 21 và điểm a, khoản 2, Điều 70, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm b, khoản 11, Quy định về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 3000/2017/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Q (sửa đổi, bổ sung tại điểm g, khoản 9, Điều 1, Quyết định số 09/2024/QĐ-UBND ngày 19/02/2024 của UBND tỉnh). Do đó, Uỷ ban nhân thành phố đề nghị Tòa án căn cứ vào nội dung xác nhận nguồn gốc đất của Ủy ban nhân dân phường Y để xác định người được quyền sử dụng đất, quản lý thửa đất số 88 tờ 83.

Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí đã quyết định:

Căn cứ:

  • - Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 2 Điều 229; Điều 147; Điều 157; Điều 164; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Điều 158, 166, 175, 189, 190 Bộ luật dân sự 2015.

  • - Điểm b khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 21 Nghị định số: 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai.

  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai của nguyên đơn ông Trần Đình H đối với bị đơn ông Trần Văn C.

  2. Ông Trần Đình H được quyền sử dụng diện tích 311,2m² đất cây lâu năm, tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 của Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, địa chỉ thửa đất tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, tứ cận tiếp giáp như sau: phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H5, phía Nam giáp đất bà Bùi Thị B1, được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8 về 1 (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo) và sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm: 01 Tường gạch xỉ có kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m; 01 ngõ láng xi măng có đánh mầu: 13,72m x 0,8m; 45 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 20cm; 15 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 15cm đến 20cm và 11 cây chuối đường kính thân nhỏ hơn 15cm.

    Ông Trần Đình H có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật.

  3. Buộc ông Trần Đình H phải thanh toán cho ông Trần Văn C số tiền là 722.704 đồng (bảy trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm linh bốn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Chấp nhận đề nghị của ông Trần Đình H và anh Trần Văn B về việc không đề nghị Toà án giải quyết phần thanh toán giá trị tường gạch xỉ kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m của ông H cho anh B, tách ra giải quyết bằng vụ án khác nếu đương sự có yêu cầu.

được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8 về 1 (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo) và sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm: 01 Tường gạch xỉ có kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m; 01 ngõ láng xi măng có đánh mầu: 13,72m x 0,8m; 45 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 20cm; 15 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 15cm đến 20cm và 11 cây chuối đường kính thân nhỏ hơn 15cm.

Ông Trần Đình H có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật.

3. Buộc ông Trần Đình H phải thanh toán cho ông Trần Văn C số tiền là 722.704 đồng (bảy trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm linh bốn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Chấp nhận đề nghị của ông Trần Đình H và anh Trần Văn B về việc không đề nghị Toà án giải quyết phần thanh toán giá trị tường gạch xỉ kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m của ông H cho anh B, tách ra giải quyết bằng vụ án khác nếu đương sự có yêu cầu.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/6/2024 bị đơn ông Trần Văn C có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm có quan điểm: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện chức năng, nhiệm vụ đúng quy định, các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C nằm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

  2. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường Y và ông Trần Văn B nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vắng mặt một số người làm chứng nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

  3. Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do về quá trình xác minh thu thập chứng cứ, lời khai của người làm chứng về nguồn gốc đất chưa đúng sự thật, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Nguyên đơn ông Trần Đình H khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Trần Văn C trả lại ông H thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích đất 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất là 311,2m². Nguyên đơn đưa ra căn cứ lý do chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U có nguồn gốc là ruộng hoang, ông H khai hoang và sử dụng trước những năm 1980 cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất từ trước đến nay, ông H có trồng rau, trồng lúa, cây hoa mầu và trồng chuối. Toàn bộ diện tích đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc bất cứ giấy tờ nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đất cho ông H.

    Bị đơn ông Trần Văn C không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đưa ra các căn cứ lý do như sau: Thửa đất số 88 và 89 tờ bản đồ số 83 có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U có nguồn gốc năm 1976 là ruộng của hợp tác xã, sau khi quy hoạch cánh đồng rau, hợp tác xã chỉ chỗ cho bố mẹ ông C là cụ Trần Văn K2 và cụ Đào Thị P2 vào làm ở địa điểm này, việc này không có giấy tờ. Đến năm 1992 cụ K2 và cụ P2 cho ông C và đã đứng tên trên bản đồ năm 1992, việc cho này không có văn bản giấy tờ. Đến năm 2005 gia đình làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu vực đó nhưng Ủy ban nhân dân thị xã U mới cấp diện tích đất cho mẹ ông H là bà Đào Thị P2 thửa đất liền kề với thửa đất số 88, 89. Còn thửa đất số 88, 89 đến thời điểm hiện tại chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại danh sách công khai ngày 11/8/2005 của Ủy ban nhân dân phường Y đã xác nhận ông C được sử dụng thửa đất số 88 từ năm 1992. Từ năm 2004 cho đến nay, ông C thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đất nhà ở, trong đó có đóng thuế cho thửa đất số 88, tờ bản đồ 83, diện tích 316,6m2. Nay ông H khởi kiện yêu cầu ông C trả lại diện tích đất 316,6m2, sau khi đo đạc hiện trạng còn lại là 311,2m2, ông C không đồng ý. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông C kháng cáo và đưa ra các lý do, căn cứ để chứng minh cho nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ, xác minh không đúng, không khách quan, lời khai của những người làm chứng về nguồn gốc thửa đất chưa đúng sự thật.

    Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp, do Tòa án thu thập; lời khai của các bên đương sự, của người làm chứng về nguồn gốc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U (sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất là 311,2m²), Hội đồng xét xử xét thấy:

    Ủy ban nhân dân phường Y có quan điểm thể hiện tại Công văn số 147/UBND ngày 20/5/2024: nội dung qua kiểm tra thực tế tại thửa đất số 88, ông Trần Đình H là người sử dụng và canh tác liên tục từ khi sử dụng đến nay, trong danh sách công khai chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005, trong đó có tên ông Trần Văn C đứng tên thửa đất nêu trên có ghi thời điểm bắt đầu sử dụng năm 1992, do chưa có cơ sở xác định chắc chắn ông C sử dụng từ năm 1992 nên Ủy ban nhân dân phường G lý do không đủ điều kiện là kiểm tra lại, việc niêm yết này là tiền đề để Ủy ban nhân dân phường Y xét duyệt nguồn gốc đất, cho đến nay, thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 chưa được Hội đồng đăng ký đất đai của phường xét duyệt cho bất kỳ ai. Ủy ban nhân dân phường đã nhiều lần tổ chức họp dân để thu thập ý kiến, tuy nhiên các hộ dân chưa thống nhất được nội dung, Ủy ban nhân dân phường Y đề nghị Toà án căn cứ vào lời khai của người làm chứng, xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất của đương sự làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.

    Những người làm chứng phía ông Trần Đình H, gồm: bà Bùi Thị B1, bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị L1, bà Hầu Thị K1, ông Phạm Văn P, ông Nguyễn Văn T2, bà Đào Thị N, bà Phạm Thị M, anh Phạm Văn T1, ông Bùi Văn K, ông Hoàng Văn C2, bà Phạm Thị L2 và ông Lê Thế A đều là những người cư trú ở khu B từ trước đến nay, không có quan hệ họ hàng và không có mâu thuẫn gì với ông H và ông C đều xác nhận: Thửa đất số 88, tờ bản đổ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U do ông Trần Đình H trước những năm 1980 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Những người có quan hệ họ hàng với cả ông H và ông C là bà Trần Thị Ý, bà Trần Thị S, ông Trần Văn C1 cũng đều xác nhận thửa đất số 88, tờ bản đổ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U do ông Trần Đình H khai hoang trước những năm 1980 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay.

    Những người làm chứng phía ông Trần Văn C cung cấp, gồm: ông Hầu Văn P1, ông Nguyễn Công T3 đều không có quan hệ họ hàng và không có mâu thuẫn gì với ông H và ông C đều trình bày không biết thửa đất số 88, tờ bản đổ số 83. Ông Vũ Văn T4 và ông Vũ Văn C4 (có quan hệ họ hàng với cả ông H và ông C) đều trình bày không biết thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83. Riêng ông Đặng Thành Công k nguồn gốc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 là đất của cụ K2 và cụ P2 cho anh Trần Văn L3 (là con trai của ông Trần Văn C), giai đoạn năm 2005 nhà nước có quy chủ đất cho anh Trần Văn L3, thời điểm này Ủy ban nhân dân phường Y đã xét duyệt nguồn gốc đất, ông C3 không xuống thực địa mà chỉ ở trên phường xét duyệt hồ sơ. Tại phiên tòa phúc thẩm ông C3 có quan điểm vẫn giữ nguyên lời khai tại cấp sơ thẩm đồng thời khẳng định thửa đất này Ủy ban nhân dân phường Y đã xét duyệt nguồn gốc đất và thời điểm đó không có đất để khai hoang. Đánh giá lời khai của người làm chứng ông Đặng Thành C3, Hội đồng xét xử thấy lời khai của ông Đặng Thành C3 không có căn cứ bởi lẽ diện tích đất này chưa được Ủy ban nhân dân phường Y xét duyệt nguồn gốc đất (đã được Ủy ban nhân dân phường Y xác nhận), và chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện giai đoạn đo đất, quy chủ là vào năm 2004 chứ không phải năm 2005, hơn nữa cụ K2 và cụ P2 là chủ sử dụng thửa đất số 105, tờ bản đồ số 83 thửa đất này hiện đứng tên ông Trần Văn C do nhận thừa kế của cụ K2 và cụ P2.

    Ông Phạm Văn H6, là trưởng khu B, phường Y, thành phố U trình bày biết được ông Trần Đình H sử dụng thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 từ năm 2006 cho đến nay, còn trước đó ông H6 không biết. Tuy nhiên ông H6 có ký xác nhận vào Giấy xin xác nhận đất vườn ngày 26/3/2011 của ông Trần Đình H, trong đó có nội dung ông H nêu đất này ông H sử dụng từ đời bố ông H và ông H, không có tranh chấp, không nằm trong quy hoạch.

    Như vậy, Thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất là 311,2m² chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất cho ông Trần Đình H và ông Trần Văn C cũng như cá nhân hay tổ chức nào khác. Năm 2004, Xí nghiệp T11 (nay là Xí nghiệp T9 – Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên T10) tiến hành khảo sát, xác định ranh giới, mốc giới đối với thửa đất này đã quy chủ đứng tên ông Trần Văn C. Việc quy chủ này chỉ mang tính chất tạm thời, kê khai chủ sử dụng đất chứ chưa có cơ sở chứng minh ông Trần Văn C là chủ sử dụng đất hợp pháp, đối với thửa đất này. Thửa đât này nằm trong quy hoạch khu dân cư đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Q phê duyệt.

    Bị đơn ông Trần Văn C cho rằng nguồn gốc đất số 88, tờ bản đồ số 83 là của cụ Trần Văn K2 và cụ Đào Thị P2 (là bố, mẹ của ông C) canh tác, sử dụng từ năm 1976, danh sách công khai ngày 11/8/2005 của Ủy ban nhân dân phường Y xác nhận ông sử dụng từ năm 1992 và từ năm 2004 đến nay, ông thực hiện việc đóng thuế cho thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn C có giao nộp cho Toà án sơ thẩm các biên lai thu thuế; các hoá đơn này của Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U. Theo đại diện Ủy ban nhân dân phường Y cung cấp thì các biên lai này đóng thuế cho thửa đất số 105 tờ bản đồ 83 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 564075, số vào sổ H00291 do UBND thị xã U cấp ngày 16/8/2006, thửa đất này của cụ K2 và cụ P2 (là bố mẹ của ông C) sau này đứng tên ông Trần Văn C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DD243378 do Ủy ban nhân dân thành phố U cấp ngày 14/7/2022 (nguồn gốc: nhận thừa kế), các biên lai này không phải đóng thuế cho thửa đất số 88 tờ bản đồ số 83 mà ông Trần Đình H đang tranh chấp với ông Trần Văn C.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, những người làm chứng có mặt tại phiên tòa đều có quan điểm giữ nguyên lời khai như trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm. Như vậy, căn cứ lời khai của những người làm chứng là những người cùng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của nguyên đơn, đại diện khu dân cư cũng như ý kiến của Ủy ban nhân dân phường Y, Ủy ban nhân dân thành phố U và kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ phù hợp nhau, có đủ cơ sở xác định xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất của người sử dụng đối với thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² (toàn bộ diện tích đất này là đất cây lâu năm) có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ còn lại là 311,2m² do ông Trần Đình H khai hoang và sử dụng ổn định, canh tác liên tục từ trước năm 1980 đến nay, mặc dù ông Trần Đình H không có một trong các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nhưng đã được Ủy ban nhân dân phường Y, những người làm chứng, đại diện khu dân cư xác nhận thời điểm sử dụng đất, mục đích sử dụng đất là sử dụng trước những năm 1980 và canh tác liên tục cho đến nay, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nên yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình H là có căn cứ nên được chấp nhận.

    Từ những phân tích, nhận định và đánh giá nêu trên đủ cơ sở để xác định thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83, diện tích 316,6m² (toàn bộ diện tích đất này là đất cây lâu năm) có địa chỉ tại tổ A, khu B, phường Y, thành phố U sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ còn lại là 311,2m² do ông Trần Đình H khai hoang và sử dụng ổn định, canh tác liên tục từ trước năm 1980 đến nay. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị đơn ông Trần Văn C kháng cáo nhưng không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh cho nội dung yêu cầu kháng cáo đồng thời ông C kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm quá trình xác minh, thu thập chứng cứ, lời khai của người làm chứng về nguồn gốc đất chưa đúng sự thật nhưng như phân tích nhận định đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy tài liệu chứng cứ do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập, lời khai của những người làm chứng là hoàn toàn vô tư, khách quan, đúng trình tự thủ tục tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    Tuy nhiên, xem xét bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: nguyên đơn ông Trần Đình H khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Văn C phải trả lại ông H diện tích đất 316,6m², sau khi đo đạc hiện trạng còn lại là 311,2m² và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Trần Văn C có quan điểm ông C là người đang quản lý, sử dụng thửa đất này nhưng quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên buộc ông C phải có nghĩa vụ trả lại diện tích đất trên cho ông H là thiếu sót, gây khó khăn cho thi hành án, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

  4. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Trần Đình H tự nguyện nhận chịu cả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và tiền chi phí định giá tải sản là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

  5. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn và bị đơn thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về án phí phúc thẩm: yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm nhưng bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên miễn án phí phúc thẩm cho bị đơn..

  7. Chấp nhận quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Căn cứ:

  • - Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 2 Điều 229; Điều 147; Điều 157; Điều 164; Điều 266; Điều 271; Điều 273; khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Điều 158, 166, 175, 189, 190 Bộ luật dân sự 2015.

  • - Điều điểm b khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 21 Nghị định số: 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai.

  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai của nguyên đơn ông Trần Đình H đối với bị đơn ông Trần Văn C.

    Buộc ông Trần Văn C phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Đình H quyền sử dụng diện tích 311,2m² đất cây lâu năm, tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 của Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

  2. Ông Trần Đình H được quyền sử dụng diện tích 311,2m² đất cây lâu năm, tại thửa đất số 88, tờ bản đồ số 83 của Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, địa chỉ thửa đất tại khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, tứ cận tiếp giáp như sau: phía Tây giáp đường đất, phía Đông giáp đất ông Trần Văn C, phía Bắc giáp đất ông Trần Văn H5, phía Nam giáp đất bà Bùi Thị B1, được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8 về 1 (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo) và sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm: 01 Tường gạch xỉ có kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m; 01 ngõ láng xi măng có đánh mầu: 13,72m x 0,8m; 45 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 20cm; 15 cây chuối có đường kính thân lớn hơn 15cm đến 20cm và 11 cây chuối đường kính thân nhỏ hơn 15cm.

    Ông Trần Đình H có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định của pháp luật.

  3. Buộc ông Trần Đình H phải thanh toán cho ông Trần Văn C số tiền là 722.704 đồng (bảy trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm linh bốn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Chấp nhận đề nghị của ông Trần Đình H và anh Trần Văn B về việc không đề nghị Toà án giải quyết phần thanh toán giá trị tường gạch xỉ kích thước: 38,68m x 0,6m x 0,15m của ông H cho anh B, tách ra giải quyết bằng vụ án khác nếu đương sự có yêu cầu.

  5. Về chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn ông Trần Đình H tự nguyện chịu chi phí xem xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và tự nguyện chịu chi phí định giá tài sản với số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), toàn bộ số tiền này đã chi hết.

  6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn ông Trần Đình H; miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bị đơn ông Trần Văn C.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND thành phố Uông Bí;
  • - CCTHADS thành phố Uông Bí;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đức Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai

  • Số bản án: 56/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger