|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 07 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Thu Hương
Bà Phạm Thị Ngọc Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với:
Bị cáo Phạm Văn T, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2000 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 (Đã chết) và bà Phạm Thị T2; có vợ Lê Nguyễn Thu P và 01 con sinh năm 2020; tiền án: Bản án số 32/2023/HSST ngày 28/3/2023 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.
- Bị hại: Ông Phạm Văn K sinh năm 1956 “có mặt”, bà Vũ Thị T3 sinh năm 1958 “vắng mặt”, nơi cư trú: Phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Bà T3 ủy quyền cho ông K tham gia tố tụng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Thực có quan hệ họ hàng với ông Phạm Văn K, biết gia đình ông K thường xuyên vắng nhà vào buổi sáng nên T nảy sinh ý định đến nhà ông K trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sáng ngày 21/12/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave S biển kiểm soát 35B1-245.51 đi từ nhà đến nhà ông K. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày đi đến nơi, T quan sát thấy nhà ông K không có ai ở nhà, cửa cổng cài chốt ngang, không khóa. Thực dựng xe mô tô trước cổng, dùng tay phải gạt chốt mở cổng, đi vào trong sân thấy cửa ra vào được khóa bằng 01 khóa Việt Tiệp mầu đen, T lấy ở trước cửa ra vào 01 chiếc đục dài 35 cm, có đầu dẹp sắc bằng kim loại dài 22,5 cm, rộng 3 cm, cán gỗ dài 12,5 cm, hình trụ tròn đường kính 2,5 cm và 01 dùi đục làm bằng gỗ dài 39,5 cm, có đầu to hình chữ nhật kích thước (5x4)cm, đầu bé hình chữ nhật kích thước (3,5x2,5)cm. Sau đó, T kê đầu dẹp bằng kim loại của chiếc đục vào phần thân khóa cửa rồi dùng dùi đục đập vào phần chuôi đục thì phá được khóa. Thực để chiếc đục, dùi đục, khóa cửa trước cửa ra vào, mở cửa đi vào phòng khách, lấy chìa khóa phòng ngủ ở đôn gỗ kê sát cửa ra vào, mở cửa phòng ngủ đi vào bên trong lục tìm tài sản. T tìm lấy được số tiền 350.000 đồng ở trong gối để ở vị trí đầu giường ngủ, số tiền 3.000.000 đồng để dưới chiếu đầu giường ngủ, 02 khuyên tai dạng vòng tròn bằng vàng tây để ở trong hộp sắt có dòng chữ Gold H bỏ trong vỏ gối để ở phía cuối giường ngủ và số tiền 52.000.000 đồng để ngăn dưới cùng buồng bên phải của tủ quần áo. Sau đó, T bỏ số tài sản vừa lấy được vào túi áo đang mặc, đi ra khép cửa phòng ngủ, cửa ra vào và chốt cửa cổng nhà ông K lại, rồi điều khiển xe mô tô về nhà và cất giấu số tài sản vừa trộm cắp được trong tủ. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, ông K và vợ là bà Vũ Thị T3 đi làm về, phát hiện bị mất tài sản đã đến Công an phường N, thành phố N trình báo. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, ông K nghi ngờ T đã lấy trộm tài sản nên đã đến nhà hỏi T. T thừa nhận việc trộm cắp tài sản và trả lại số tài sản đã trộm cắp cho ông K và đến Công an phường N, thành phố N đầu thú. Ngày 22/12/2023, ông K đến Công an phường N, thành phố N giao nộp số tiền 55.350.000 đồng và 02 khuyên tai dạng vòng tròn bằng vàng. Công an phường N đã thu giữ của bà Phạm Thị T2 (mẹ đẻ của T) 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave S biển kiểm soát 35B1-245.51, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 0253.70 mang tên Đỗ Thị P1 và thu giữ của ông K 01 chiếc dùi đục dài 35 cm có đầu dẹp sắc bằng kim loại dài 22,5 cm, rộng 3 cm, cán gỗ dài 12,5 cm, hình trụ tròn đường kính 2,5 cm và 01 dùi đục làm bằng gỗ dài 39,5 cm, có đầu to hình chữ nhật kích thước (5x4)cm, đầu bé hình chữ nhật kích thước (3,5x2,5)cm; 01 khóa kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp, phần thân khóa mầu đen kích thước (4,5x3,5)cm, móc khóa mầu trắng bạc kích thước (3,5x4)cm; 01 hộp kim loại hình chữ nhật kích thước (20x11x6)cm.
Tại Bản kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của V Bộ C kết luận: 02 chiếc khuyên tai bằng kim loại màu vàng đều được chế tác dạng vòng tròn gửi giám định có tổng khối lượng 1.86 gam đều là hợp kim của vàng (A), bạc (A), đồng (Cu), kẽm (Zn); hàm lượng trung bình của A1; Ag 7,16%.
2
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 29/2/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: 02 chiếc khuyên tai bằng kim loại mầu vàng đều được chế tác dạng vòng tròn có tổng khối lượng 1,86 gam có giá là 1.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 61/CT-VKSTPNB ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố để xét xử bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố.
Bị hại ông Phạm Văn K khai: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 21/12/2023 khi ông K đi làm về thì vợ chồng ông phát hiện bị mất tổng số tiền là 55.350.000 đồng, trong đó: Số tiền 350.000 đồng để trong gối đặt ở vị trí đầu giường ngủ, số tiền 3.000.000 đồng để dưới chiếu đầu giường ngủ, số tiền 52.000.000 đồng để dưới cùng ngăn tầng 2 của tủ gỗ kê tại phòng ngủ và 02 khuyên tai bằng vàng tây trong hộp sắt có chữ Gold Hepolin bỏ trong vỏ gối để ở phía cuối giường ngủ. Sau khi phát hiện bị mất trộm, T đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho gia đình ông, ông bà không có yêu cầu đề nghị gì khác, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 30 đến 36 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 32 ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 39 đến 45 tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ bằng 06 ngày tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đục, 01 dùi đục, 01 khóa kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp, 01 hộp bằng kim loại thu giữ của ông Phạm Văn K.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn T trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Phạm Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp
3
dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng đã thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 tại nhà ông Phạm Văn K ở phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Phạm Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 55.350.000 đồng và 02 khuyên tai dạng vòng tròn bằng vàng có giá là 1.500.000 đồng; tổng giá trị tài sản Phạm Văn T chiếm đoạt của ông Phạm Văn K là 56.850.000 đồng. Bị cáo Phạm Văn T là người có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản là xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
c)Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
...
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đang có 01 tiền án, phạm tội trong thời gian thử thách, thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình
4
sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc bị phát hiện, bị cáo đã đến Công an phường N, thành phố N xin đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Đầu thú” theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có 01 tiền án, đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo Phạm Văn T phạm tội mới trong thời gian thử thách, sau khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 32/2023/HSST ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Bị cáo Phạm Văn T bị tạm giữ 06 ngày trong vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 02/02/2023 nên được trừ 06 ngày tạm giữ bằng 06 ngày tù. Khi lượng hình cần xem xét cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, xét thấy: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 chiếc đục, 01 dùi đục và 01 khóa kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp là tài sản của ông Phạm Văn K, bị Phạm Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị, ông K không có nhu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Phạm Văn K đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
5
N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị tuyên có tội nên bị cáo Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tòa án.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55, Điều 56, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 09 (Chín) tháng tù của Bản án số 32/2023/HSST ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ bằng 06 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (22/12/2023).
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đục, 01 dùi đục, 01 khóa kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp, 01 hộp kim loại hình chữ nhật.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình)
4. Án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM DIỆU OANH |
7
8
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 ; Phạm Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 55.350.000 đồng và 02 khuyên tai dạng vòng tròn bằng vàng có giá là 1.500.000 đồng; tổng giá trị tài sản Phạm Văn T chiếm đoạt của ông Phạm Văn K là 56.850.000 đồng.
