TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 – 5 – 2024
“ Tranh chấp Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Huy Tùng.
2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa:
Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Tú P, sinh năm 1983 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số B, ấp P, thị trấn L, huyện T, tỉnh S.
- - Bị đơn: Ông Trần Quốc H, sinh năm 1976 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số B, ấp P, thị trấn L, huyện T, tỉnh S. Địa chỉ liên hệ: Cây xăng H1, ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Tú P trình bày:
Bà Nguyễn Tú P với ông Trần Quốc H kết hôn với nhau vào năm 2003. Hai người đăng ký kết hôn và được UBND phường C, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 151 ngày 10/10/2003.
Sau khi kết hôn thời gian đầu sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc thường xuyên cãi vả. Hai người ly thân từ năm 2019 cho đến nay.
Thời gian chung sống ông bà có ba con chung: Có ba con tên Trần Đại V, sinh ngày 10/6/2004; Nguyễn Ngọc Bích T, sinh ngày 24/02/2010 và Nguyễn Trần Bảo L, sinh ngày 29/01/2016. Hiện các con đang sống cùng bà P.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Nguyễn Tú P yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quốc H.
- - Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con Nguyễn Ngọc Bích T, sinh ngày 24/02/2010 và Nguyễn Trần Bảo L, sinh ngày 29/01/2016. Không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Riêng Trần Đại V, sinh ngày 10/6/2004 đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Quốc H không có lời trình bày do vắng mặt:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 263/2023/TB-TLVA ngày 12 tháng 10 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Trần Quốc H nhưng ông H không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tú P. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông H, không tiến hành hòa giải được và ông H cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Tú P được quyền ly hôn với ông Trần Quốc H. Về con chung: Giao hai con Nguyễn Ngọc Bích T, sinh ngày 24/02/2010 và Nguyễn Trần Bảo L, sinh ngày 29/01/2016 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng Trần Đại V, sinh ngày 10/6/2004 đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Trần Quốc H và bà Nguyễn Tú P đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn ông H thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Nguyễn Tú P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Trần Quốc H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Tú P với ông Trần Quốc H là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng một thời gian sau, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà P yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Nguyễn Ngọc Bích T, sinh ngày 24/02/2010 và Nguyễn Trần Bảo L, sinh ngày 29/01/2016. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con. Xét thấy con đang sống cùng bà P và có nguyện vọng sống cùng mẹ nên yêu cầu của bà P phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Riêng Trần Đại V, sinh ngày 10/6/2004 đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà P yêu cầu nên bà P phải chịu theo luật định.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Tú P.
- - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Tú P được quyền ly hôn với ông Trần Quốc H.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bích T, sinh ngày 24/02/2010 và cháu Nguyễn Trần Bảo L, sinh ngày 29/01/2016 cho bà Nguyễn Tú P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Trần Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng Trần Đại V, sinh ngày 10/6/2004 đã trưởng thành, tự nuôi sống bản thân nên không cần đặt ra xem xét, giải quyết. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Trần Quốc H không phải phải nộp án phí.
- + Bà Nguyễn Tú P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004133 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà P đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà P yêu cầu ly hôn với ông H
