Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 30/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Duy Quyến.
  2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết H - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 25/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST- HS ngày 15/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy N; Sinh ngày 10/12/1978. Tại: thôn V, xã T, huyện T, Thái Bình;

Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Duy N1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1939; Có vợ: Đặng Thị N2, sinh năm 1982 và có bốn con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2022;

+ Tiền sự: Không;

+ Tiền án: Không;

Nhân thân:

Tại Bản án hình sự số 28/2008/HSST ngày 25/7/2008 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt Ngoạn 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm về tội Đánh bạc, án phí 200.000 đồng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng. Ngày 28/10/2008 chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/8/2023, đến ngày 08/11/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/Công ty cổ phần kinh doanh F88- Trụ sở 353 L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T - Tổng giám đốc

2/Anh Vũ Quang H1, sinh năm 1988 ở thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

+ Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình,

2/ Anh Trần Ngọc Q, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh thái Bình,

3/Chị Đặng Thị N2, sinh năm 1982,

Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh thái Bình,

( chị N2 có mặt anh T1, anh Q vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2020, Nguyễn Duy N có mua mới chiếc xe ô tô nhãn hiệu HONDA Brio Rs 1.2 AT 2020, biển số 17A-179.46 với giá 430.000.000 đồng. Ngày 20/3/2023, N mang chiếc xe ô tô trên đến Phòng giao dịch F88 của Công ty Cổ phần K, địa chỉ C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình hợp đồng ký gửi tài sản để làm thủ tục vay tín dụng số tiền 170.000.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ nên đầu tháng 4/2023, N liên hệ với một tài khoản (không nhớ tên) trên mạng xã hội đặt mua 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả chiếc xe ô tô biển số 17A-179.46, N đã ký gửi vay tín dụng tại Công ty K với giá 1.500.000 đồng (do giấy chứng nhận thật đang bị Công ty F88 quản lý), vài ngày sau N nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả của chiếc xe ô tô biển số 17A-179.46. Mục đích N làm giấy đăng ký xe ô tô giả mang đặt xe lấy tiền chứ không bán vì nếu dùng giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả bán xe sẽ bị phát hiện. Sau khi mua được giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, thông qua bạn là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978 ở thôn N, xã Đ, huyện Đ, N biết anh Vũ Quang H1, sinh năm 1988 ở thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, là chủ quán Karaoke HT, có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ngày 09/4/2023, N điều khiển xe ô tô trên đến quán K1 gặp anh H1 và đặt vấn đề cầm cố xe ô tô để vay số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) trong vòng 01 tháng; anh H1 không đồng ý cho N cầm cố mà chỉ đồng ý mua lại xe nhưng N không bán. Sau khi thỏa thuận, hai bên thống nhất Ngoạn viết giấy bán xe và để lại xe cùng đăng ký xe cho anh H1 để làm tin, trong 01 tháng Ngoạn có tiền thì đến lấy xe rồi tính tiền lãi (Anh H1 chưa biết giấy đăng ký xe ô tô Ngoạn đưa là giả). Cùng ngày, anh H1 đã chuyển khoản cho N vay số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 15/4/2023, N tiếp tục liên lạc với anh H1 hỏi vay thêm số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), anh H1 đồng ý chuyển khoản cho N làm 04 lần vào ngày 15/4/2023 hai lần và ngày 24/4/2023 hai lần cho N vay số tiền là 50.000.000 đồng. Đến hạn N không đến trả tiền và lấy xe, khoảng giữa tháng 5/2023, anh H1 đến nhà N yêu cầu N lấy lại xe và trả tiền nhưng N nói chưa có tiền trả, anh H1 nói với N nếu không có tiền trả thì làm thủ tục sang tên xe cho anh H1 đồng thời yêu cầu N cùng vợ làm thủ tục bán xe để anh H1 làm thủ tục sang tên nhưng vợ N không đồng ý ký tên vào giấy bán xe do anh H1 đã viết sẵn. Khoảng đầu tháng 6/2023, anh H1 mang xe ô tô và đăng ký xe ô tô của N đến Phòng C Công an tỉnh T để hỏi về thủ tục mua bán, sang tên xe thì phát hiện giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô của N là giả. Anh H1 đến gặp N để nói chuyện thì N thừa nhận giấy chứng nhận đăng ký xe giao cho anh H1 là giả và chưa có tiền trả anh H1 để lấy lại xe. Ngày 26/7/2023, anh H1 đã làm đơn tố giác hành vi của N với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ yêu cầu xử lý Ngoạn theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 1145/KLGĐ-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:

Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 031726 mang tên Nguyễn Duy N là Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSĐH ngày 09/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Nguyễn Duy Ngoạn - Về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N - Phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả là trả lại anh H1 số tiền 300.000.000 đồng là tiền mua xe ô tô, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

+ Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 341; Điều 38; Điều 50; Điểm s, Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

+ Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Giấy đăng ký xe ô tô giả số 031726 mang tên Nguyễn Duy N là tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Do đó, đề nghị : Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để lưu hồ sơ vụ án.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về việc vắng mặt Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, những người trên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[II] Về nội dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Duy N đã khai nhận:

Ngoạn đã mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu HONDA biển số 17A-179.46 với giá 430.000.000 đồng. Ngày 20/3/2023, N mang chiếc xe ô tô trên đến Phòng giao dịch F88 của Công ty Cổ phần K làm hợp đồng ký gửi tài sản để làm thủ tục vay tín dụng. Giấy đăng ký xe Công ty Cổ phần kinh doanh F88 giữ lại. Do làm ăn thua lỗ, cần vốn làm ăn nên N đã liên hệ với một tài khoản (không nhớ tên) trên mạng Internet đặt mua 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 031726 mang tên Nguyễn Duy N cho chiếc xe ô tô biển số 17A-179.46.

Lời khai của bị cáo Nguyễn Duy N phù hợp với Bản kết luận giám định số 1145/KLGĐ-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 031726 mang tên Nguyễn Duy N là Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Duy N đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy N là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật trự quản lý hành chính của nhà nước.

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Với mức độ làm 01 tài liệu giả thì hành vi phạm tội của bị cáo N thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[3]Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả là trả lại anh H1 số tiền đã bỏ ra mua xe ô tô nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo là xấu cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, mới đủ giáo dục và cải tạo bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đông con, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Trong vụ án này Nguyễn Duy N còn có hành vi dùng Giấy tờ đăng ký xe giả để bán chiếc xe ô tô HONDA Brio Rs 1.2 AT 2020, biển số 17A-179.46 cho anh Vũ Quang H1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét thấy Nguyễn Duy N còn có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên đã trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng để điều tra bổ sung. Sau khi điều tra bổ sung Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng xác định Nguyễn Duy N không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Với lý do: Khi cầm cố xe ô tô cho anh H1 hai bên thỏa thuận đặt xe làm tin để vay tiền và hẹn thời hạn trả cụ thê, su khi bị phát hiện N không có hành vi bỏ trốn hoặc trốn tránh nghĩa vụ trả tiền cho anh H1 và đã thừa nhận dùng Chứng nhận dăng ký xe giả để vay tiền của anh H1 nên hành vi này của N chỉ là giả dối trong giao dịch dân sự, không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình và Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xem xét hành vi gian dối “Sử dụng Giấy tờ đăng ký xe giả” để bán chiếc xe ô tô của Nguyễn Duy N cho anh Vũ Quang H1.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 031726 mang tên Nguyễn Duy N đựng trong phong bì số 1145/KLGĐ-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T để lưu hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Nguyễn Duy N đã trả lại tiền cho anh H1 và lấy lại xe ô tô nên không đặt ra gải quyết trong vụ án.

Chiếc xe ô tô Ngoạn ký gửi cho Công ty cổ phần K Ngoạn để lấy lại. Do đó quyền lợi của Công ty cổ phần K vẫn đảm bảo nên không đặt ra gải quyết trong vụ án.

[8] Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Duy N phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N - Phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức ”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

Áp dụng Khoản 1 Điều 341; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 01 (một) năm 06 (sáu)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành hình phạt tù, được khấu trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 11/8/2023, đến ngày 08/11/2023.

[3]Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu để lưu hồ sơ vụ án 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 031726 mang tên Nguyễn Duy N đựng trong phong bì số 1145/KLGĐ-KTHS.

[4] Về án phí:

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Nguyễn Duy N phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Người có quyền lợi liên quan và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với Bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đối với người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận

  • - Bị cáo
  • - VKS, CA, THA h Đông Hưng.
  • - VKS tỉnh Thái Bình.
  • - Người CQLNVLQ.
  • - Sở tư pháp ( khi án có hiệu lực)
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tiến Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Ng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger