|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 29-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Thanh Nguyên và ông Trần Duy Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh V, sinh năm 1999 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú, cư trú: ấp T, xã M, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Phượng H; vợ là Thị Hồng G và có 02, con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; nhân thân: Ngày 22-02-2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17-4-2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 06-3-2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang khởi tố về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T (có mặt).
Bị hại: Bà Trần Thị B, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Lê Văn D, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Trần Thị P, sinh năm 1974 ( vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 02-5-2023, Nguyễn Thanh V đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, thấy xe mô tô biển số 67M1-115.67 của bà Trần Thị Ba d tại khu đất trống, không ai trông giữ nên nảy sinh ý định lấy trộm. V đến dùng tay tháo dây điện câu đờ rét, khởi động máy lấy trộm xe mô tô chạy về nhà cất giấu. Sau đó, V thuê làm giấy chứng nhận đăng ký xe giả tên Nguyễn Thanh V, rồi đem xe đến tiệm cầm đồ “Đức Phượng”, ngụ thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang cầm giá 6.500.000 đồng. Khoảng tháng 7-2023, V thông qua tiệm cầm đồ của bà P bán xe mô tô 67M1-115.67 cho ông Nguyễn Văn Đ với giá 7.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đến ngày 19-3-2024, bà B phát hiện Đ điều khiển xe mô tô biển số 67M1-115.67 trên đường nên trình báo Công an xã T. Qua làm việc, V khai nhận hành vi lấy trộm xe của bà B như trên.
Đến ngày 29-5-2024, V bị khởi tố để điều tra.
Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 67M1-115.67, hiệu Yamaha, loại Sirius; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 061615, biển số xe đăng ký 67M1-115.67, đã trả cho bị hại; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 053341, tên chủ xe Nguyễn Thanh V, biển số xe đăng ký 67M1-115.67, đã chuyển Cơ quan điều tra – Công an huyện T.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 22 ngày 02-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 xe mô tô biển số 67M1-115.67, hiệu Yamaha, loại Sirius trị giá 6.000.000 đồng.
Căn cứ Kết luận giám định số 798 ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 053341, tên chủ xe Nguyễn Thanh V, biển số đăng ký 67M1-115.67 là giả.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKSTT-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố Nguyễn Thanh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 17-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
Về vật chứng: Xe mô tô biển số 67M1-115.67 đã trả cho bà B; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 053341, tên chủ xe Nguyễn Thanh V, biển số xe đăng ký 67M1-115.67, đã chuyển Cơ quan điều tra – Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường 7.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Đ. Đây là sự tự nguyện của bị cáo, không trái pháp luật nên đề nghị công nhận.
Bị cáo Nguyễn Thanh V còn có hành vi sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả, đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự
vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thanh V đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 08 giờ ngày 02-5-2023, tại khu vực ấp T, xã T, huyện T, bị cáo Nguyễn Thanh V đã có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 67M1-115.67 của bà Trần Thị B, trị giá 6.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, nên được áp dụng
tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội cùng loại tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 67M1-115.67, hiệu Yamaha, loại Sirius; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 061615, biển số xe đăng ký 67M1-115.67, đã trả cho bà B; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 053341, tên chủ xe Nguyễn Thanh V, biển số xe đăng ký 67M1-115.67, đã chuyển Cơ quan điều tra – Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ.
Bị cáo Nguyễn Thanh V còn có hành vi sử dụng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả, đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị B không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Ông Đ yêu cầu bị cáo bồi thường tiền mua xe mô tô 7.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên được chấp nhận.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 17-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 (hai) bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 22-7-2023.
Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 584; Điều 589 Bộ luật dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh V phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn văn Hùng |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
