|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2023/HS-ST Ngày: 28-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Quốc Tiến;
- Ông Trần Văn Bé Hai;
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với:
Bị cáo Trần Văn T, sinh ngày 01/01/1986; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: tổ C, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Trần Văn H, sinh năm 1953; Con bà: Nguyễn Thị Bé C, sinh năm: 1958; Vợ tên: Huỳnh Thị Thúy L, sinh năm 1982; Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2011; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
1. Bị hại: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1985 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn L1:
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1961.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960.
- Chị Trần Thị Cẩm G, sinh năm 1992.
- Cháu Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 2012.
- Cháu Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 2017.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Cẩm T1 và cháu Nguyễn Thị Cẩm T2 là Chị Nguyễn Thị Cẩm G1, sinh năm 1992 (mẹ ruột);
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị N là chị Trần Thị Cẩm G theo văn bản ủy quyền chứng thực ngày 09/5/2023.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Lê Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Tổ C, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của chị Lê Nguyễn Thanh T3 là Dương Vĩnh T4, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo văn bản ủy quyền chứng thực ngày 24/5/2023.
2.2. Anh Thái Hữu L2, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2.3. Tổng Công ty Cổ phần B1.
Địa chỉ: Tầng H, số D, L, quận B, Thành phố Hà Nội.
Đại diện hợp pháp là Nguyễn Khánh H1, chức vụ: Trưởng phòng Giám định – Bồi thường – Công ty B2. Địa chỉ: số B, đường Đ, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. (theo văn bản ủy quyền số 288/CV-PTIĐT, ngày 15/11/2023)
3. Người làm chứng: Anh Phạm Văn T5, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Tổ D, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 16/4/2023, Trần Văn T, sinh năm 1986, ngụ tổ C, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, điều khiển xe ô tô biển số 66C- 093.05 (xe do chị Lê Nguyễn Thanh T3 đứng tên chủ sở hữu) lưu thông trên đường Đ hướng xã P, huyện C đi thành phố C. Khi đến địa phận ấp A, xã P, huyện C do không làm chủ được tay lái, T chạy lấn sang phần đường bên trái theo hướng di chuyển đụng trực diện vào cây sao ven đường. Lúc này, xe ô tô quay đầu, lật ngang (lật vào phía trong lề trái) làm gãy trụ kim loại treo biển hiệu, đồng thời va chạm anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1985, ngụ ấp B, xã P, huyện C đang điều khiển mô tô biển số 66F1- 164.21 chạy theo hướng ngược lại. Hậu quả Nguyễn Văn L1 tử vong tại chỗ, hai xe bị hư hỏng nặng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 96 ngày 26/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Văn L1: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não nặng + Suy hô hấp tối cấp + Suy tuần hoàn tối cấp + Sốc đa chấn thương/Lao phổi/Tai nạn giao thông.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 18 giờ ngày 16/4/2023, xác định: Mặt đường nơi xảy ra tai nạn rộng 07 mét, đường bê tông nhựa, đường thẳng, mặt đường bằng phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, đường khô, không trơn trợt, đường hai chiều có vạch kẻ nét đường chia thành hai phần đường.
Lấy trụ điện số 9 nằm bên ngoài lề trái hướng thành phố C đi P làm điểm mốc cố định.
Chọn mép đường bên phải hướng thành phố C đi P làm mép chuẩn.
Vị trí cây sao ven đường là vùng va chạm thứ nhất vào mép chuẩn là 2,90m (Cây sao nằm ngoài mép đường chuẩn).
Vị trí trụ biển quảng cáo là vùng va chạm thứ hai vào mép chuẩn là 1,40m.
Vùng va chạm thứ thứ ba có kích thước 06 x 06 tâm vùng va chạm vào mép đường chuẩn là 0,70 mét
Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi xác định lỗi chính trong vụ tai nạn giao thông là do Trần Văn T điều khiển xe đi không đúng làn đường (đã vi phạm khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ) để xảy ra tai nạn giao thông gây hậu quả làm nạn nhân Nguyễn Văn L1 tử vong.
Cơ quan điều tra tạm giữ của Trần Văn T: Xe ô tô biển số 66C- 093.05; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 66001954; Giấy chứng nhận kiểm định số DA2464889; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 22BB220199329; Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Trần Văn T.
Tạm giữ của Nguyễn Văn L1: Xe mô tô biển số 66F1- 164.21; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 016552; Giấy phép lái xe hạng A1 số AL855985 mang tên Nguyễn Văn L1.
Quá trình điều tra, Trần Văn T tự nguyện thỏa thuận tiền chi phí mai táng, chi phí nuôi con dưới 18 tuổi, tiền tổn thất tinh thần, tiền sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng do tai nạn gây ra và các chi phí hợp lý khác với tổng số tiền 216.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại. Đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và đã làm đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho T.
Đối với xe ô tô biển số 66C- 093.05; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 66001954; Giấy chứng nhận kiểm định số DA2464889; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 22BB220199329. Cơ quan điều tra tiến hành trao trả lại cho chị Lê Nguyễn Thanh T3. Đồng thời, chị T3 không yêu cầu T phải bồi thường chi phí sửa chữa xe ô tô bị hư hỏng sau khi xảy ra tai nạn.
Đối với xe mô tô biển số 66F1- 164.21; giấy đăng ký xe mô tô số 016552, Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số AL855985 mang tên Nguyễn Văn L1. Cơ qua điều tra tiến hành trao trả cho chị Trần Thị Cẩm G là đại diện hợp pháp của bị hại.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSHCL ngày 28/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên không áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Trần Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 43/CT-VKSHCL ngày 28/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng. Bị cáo T điều khiển xe ô tô tải biển số 66C - 093.05 lưu thông trên đường ĐT856 hướng xã P đi thành phố C. Khi lưu thông đến đến ấp A, xã P, huyện C do không chú ý quan sát nên đã chạy lấn sang phần đường bên trái hướng di chuyển sai quy định dẫn đến va chạm vào người Nguyễn Văn L1 gây hậu quả anh L1 tử vong tại chỗ vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 16/4/2023.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hiện trường xảy ra vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi của bị cáo Trần Văn T vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét hành vi của bị cáo Trần Văn T, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã học tập và được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ. Cụ thể là bị cáo T điều khiển xe thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn giao thông, đây là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra thì bị cáo đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho phía gia đình của bị hại xong và được đại diện bị hại làm đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; có ông nội là Trần Văn R được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, có cha ruột là Trần Văn H được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, khi lượng hình cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong, phía đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trần Văn T.
[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 43/CT-VKSHCL ngày 28/9/2023 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ pháp luật và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong nên không đặt vấn đề xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 số [...], mang tên Trần Văn T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo tròng hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 56/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông
