Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Nguyễn Văn Bốn;
  • - Ông Cao Văn Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Thành N; sinh năm 1993, tại huyện G, tỉnh Nam Định;nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế V và bà Trần Thị L. Bị cáo chưa có vợ con, tiền án: Không, tiền sự: Ngày 28/12/2023 Phạm Thành N bị Công an xã G xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện G “có mặt”.

2. Họ và tên: Trần Văn H; sinh năm 2000, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 (đã chết) và bà Phạm Thị Tuyết. Bị cáo chưa có vợ con, tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26-6-2021 bị Công an xã G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”;bị bắt tạm giam từ ngày 30/03/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà giữ Công an huyện G “có mặt”.

*Người bị hại: Ông Phạm Văn Đ.

Địa chỉ: Xóm B, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.

* Người làm chứng: Chị Trần Thị M, chị Trần Thị M1, chị Trần Thị L “đều vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 18/03/2024, Phạm Thành N điều khiển xe mô tô BKS 29L1 -7859 rủ Trần Văn H đi chơi. Khi N, H đi đến khu vực đê trung ương thuộc xóm A xã G phát hiện bãi vật liệu của anh Phạm Văn Đ có các linh kiện máy đào (xúc) đã được tháo rời, không có người trông coi nên N và H nảy sinh ý định trộm cắp. N đứng cạnh giới còn H đi xuống lấy trộm 01 cụm bánh dẫn hướng, sau đó N lái xe chở H và cụm bánh dẫn hướng đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Trần Thị M ở xóm T, xã G bán cho bà M. Bà M hỏi: “Cái này ở đâu ra, nếu mà trộm cắp là không mua đâu”, N và H nói là làm xưởng, đồ hỏng nên mang đi bán đồng nát, bà M đồng ý mua với giá 320.000 đồng. N và H nhận tiền sau đó cùng nhau tiêu xài các nhân hết. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/03/2024 N và H thống nhất cùng nhau ra bãi vật liệu của anh Đ để tiếp tục trộm cắp 01 (một) ty gàu thủy lực của máy đào (xúc). N điều khiển xe mô tô BKS 29L1 - 7859 chở H ra bãi vật liệu của anh Đ, khi đến nơi cả hai xuống xe và cùng đi xuống khiêng chiếc ty gàu thủy lực đặt lên yên xe. N điều khiển xe chở H ngồi sau ôm ty gàu thủy lực đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà M và bán cho bà M với giá 550.000 đồng, sau đó cả hai cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 23/3/2024 anh Phạm Văn Đ phát hiện bị mất trộm nên kiểm tra camera phát hiện có 02 thanh niên trộm cắp các tài sản trên vào ngày 18/3 và 22/3/2024 nên anh Đ đã trình báo nên Công an xã G.

Công an xã G đã triệu tập Phạm Thành N và Trần Văn H để làm việc. Tại Công an xã G, N và H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.

Vật chứng đã thu giữ:

  • - Thu giữ tại cửa hàng nhà bà Trần Thị M: 01 (một) cụm bánh dẫn hướng của máy đào (xúc) bánh xích nhãn hiệu KOBELCO, mã kiểu loại SK120-1, gồm bánh dẫn hướng và trục cố định hai bên đều bằng kim loại, bánh dẫn hướng hình tròn có đường kính 42cm, trục cố định dài 28cm, màu đen, tình trạng đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường; 01 (một) ty gàu thủy lực của máy đào (xúc) bánh xích nhãn hiệu KOBELCO, mã kiểu loại SK120-1, bằng kim loại hình trụ dài 155cm, đường kính trung bình 11cm, được phủ sơn màu vàng, tình trạng đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường; thu giữ của Phạm Thành N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu sơn: xanh, đeo BKS: 29L1 – 7859, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy.
  • - T tại hệ thống camera giám sát bãi vật liệu nhà anh Phạm Văn Đ: 01 (một) đoạn video có tên: “videol”, định dạng Mp4, dung lượng 41.4 MB, thời gian từ 09:51:32 đến 09:56:29 ngày 18/3/2024 thời gian trên hệ thống trùng với thời gian thực tế đã ghi lại toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Thành N và Trần Văn H; 01 (một) đoạn video có tên: “video2”, định dạng Mp4, dung lượng 11.9 MB, thời gian từ 19:50:32 đến 19:51:50 ngày 22/3/2024 thời gian trên hệ thống trùng với thời gian thực tế đã ghi lại toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Thành N và Trần Văn H.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL Ngày 28/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện G kết luận:

  • -Giá trị của 01 (một) cụm bánh dẫn hướng của máy đào (xúc) bánh xích nhãn hiệu KOBELCO, mã kiểu loại SK120-1 nêu trên, còn hoạt động bình thường có giá là 1.320.000đ (Một triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
  • - Giá trị của 01 (một) ty gàu thủy lực của máy đào (xúc) bánh xích nhãn hiệu KOBELCO, mã kiểu loại SK120-1 nêu trên, còn hoạt động bình thường có giá là 6.800.000đ (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 27-05-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố các bị cáo Phạm Thành N và Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Thành N và Trần Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành N và Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. xử phạt Phạm Thành N từ 09 tháng tù đến 01 năm tù; xử phạt Trần Văn H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo;

Các bị cáo không bào chữa tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Phạm Thành N và Trần Văn H đã lén lút hai lần trộm cắp tài sản của anh Phạm Văn Đ. Cụ thể: Lần thứ nhất, khoảng 09h15' ngày 18-3-2024, N và H đã trộm cắp của anh Đ 01 cụm bánh dẫn hướng của máy đào xúc bánh xích nhãn hiệu KOBELCO, trị giá 1.320.000 đồng. Lần thứ hai, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/03/2024, N và H đã trộm cắp của anh Đ 01 ty gàu thuỷ lực của máy đào xúc bánh xích nhãn hiệu KOBELCO, trị giá 6.800.000đ. Bản thân N và H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên hành vi của N và H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” .Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ truy tố N, H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không tu trí lao động tạo ra của cải vật chất để phục vụ nhu cầu của bản thân mà chỉ thích hưởng thụ, nên đã phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh để giáo bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[2]Về vị trí vai trò của bị cáo trong vụ án: Các bị cáo là đồng phạm của nhau, cùng nhau thống nhất đi trộm cắp, phạm tội gian đơn, không có phân công vị trí vai trò trong quá trình thực hiện tội phạm, nên các bị cáo giữ vị trí vai trò ngang nhau trong vụ án.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau: Bị cáo N và H đều là người có nhân thân xấu. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 18/03/2024 của Phạm Thành N và Trần Văn H. Xét thấy tài sản trộm cắp là 01 cụm bánh dẫn hướng của máy đào (xúc) có giá là 1.320.000đ. Hành vi trên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và H là đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà Trần Thị M đã có hành vi mua của N và H 01 cụm bánh hướng dẫn, 01 ty thủy lực của máy đào xúc. Tuy nhiên khi mua các tài sản trên bà M không biết đó là tài sản do N và H trộm cắp mà có, nên không xử lý đối với bà M là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01cụm bánh dẫn hướng và 01 ty gàu thủy lực của máy đào xúc. Qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phạm Văn Đ, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trả lại tài sản trên cho anh Đ là đúng quy định của pháp luật.
  • -Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29L1-7859 thu giữ của Phạm Thành N. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị L (mẹ đẻ của N), khi N dùng xe đi trộm cắp chị L không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trả lại chiếc xe cho chị L là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: anh Đ đã nhận lại tài sản, bà M đã nhận lại số tiền 870.000 đồng từ gia đình bị cáo và đều không đề nghị gì nên trách nhiệm dân sự không xem xét.

[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thành N và Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Phạm Thành N 01 năm tù; xử phạt Trần Văn H 09 tháng tù . Thời hạn tù của N và H tính từ ngày bắt tạm giam 30 - 3- 2024.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Phạm Thành N, Trần Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Thành N và Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Công an huyện Giao Thủy;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ông Ngọc Lễ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt Phạm Thành N 1 năm tù và Tràn Văn Hu 9 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger