|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 56/2024/HSST | |
| Ngày: 28/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Khánh và ông Nguyễn Chương
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1989 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân S và bà Nguyễn Thị V; có vợ là Trịnh Thị Thu V1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 26/10/2023 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh G. Có mặt.
2. Nguyễn Duy Q, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1997 tại tỉnh Kon Tum. Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Võ Thị Xuân H1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 26/10/2023 và tạm giữ, tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh G. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh H: Ông Trần Đại H2 - Luật sư Văn phòng Luật sư Trương Thị P thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Dương Thế Q1, sinh năm 1989; địa chỉ: B C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 26/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Duy Q khi cả hai đang ở trước số nhà H P, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể thu giữ trên tay phải của Nguyễn Duy Q; 01 bì nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể thu giữ trong túi xách màu trắng của Nguyễn Mạnh H.
Tại Kết luận giám định số 952/KL-KTHS ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận:
Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 gói nilon là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,8484 gam. Chất màu trắng dạng thể trong 01 bì nilon là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 79,2940 gam.
Cơ quan điều tra đã chứng minh về hành vi phạm tội của các bị can như sau:
Nguyễn Mạnh H có quen biết từ trước với một người nam giới tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch). Nguyễn Duy Q quen biết với Nguyễn Mạnh H và đều là người sử dụng ma túy.
Sáng ngày 26/10/2023, Nguyễn Mạnh H đứng chờ xe tại xã B, huyện N, tỉnh Kon Tum để đi thành phố P, tỉnh Gia Lai làm ăn thì gặp T2, biết H đi Gia Lai nên T2 thuê H vận chuyển ma túy từ huyện N, tỉnh Kon Tum xuống thành phố P, tỉnh Gia Lai với tiền công là 5.000.000 đồng, H đồng ý. T2 đưa cho H 01 gói ma túy và 1.000.000 đồng cùng với số điện thoại của một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi yêu cầu H vận chuyển gói ma túy này đến khu vực chợ T5, thành phố P, tỉnh Gia Lai giao cho B. Sau khi nhận gói ma túy của T2 xong, H đón xe đi từ huyện N đến bến xe thành phố K thì xuống xe. Tại đây, H gặp Nguyễn Duy Q đang ngồi uống cà phê, H rủ Q đi đến thành phố P, tỉnh Gia Lai chơi, Q đồng ý.
Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Duy Q đón xe đi đến khu vực chợ T5, thành phố P và gọi điện thoại cho B, được B hướng dẫn đi đến hẻm B P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi đến nơi, H và Q lên xe của B, B chở cả hai đi qua nhiều tuyến đường khác nhau rồi dừng lại trước một căn nhà (không rõ vị trí). Lúc xuống xe, Q ở ngoài còn H cùng B đi vào nhà. Theo sự thống nhất của T2, H lấy gói ma túy đưa cho B để kiểm tra. Bi trích trong gói ma túy ra một ít, bỏ vào một gói nilon nhỏ và lấy một ít ma túy từ gói nilon nhỏ ra dùng thử. Sau khi dùng thử, B nói ma túy không đạt chất lượng rồi gọi điện thoại cho T2 để nói H mang ma túy về trả cho T2, đồng thời yêu cầu H xóa hết mọi thông tin trên điện thoại liên quan đến số điện thoại của B. H lấy toàn bộ ma túy cất giấu vào trong túi xách của mình rồi đi ra ngoài cùng Q gọi taxi về tỉnh Kon Tum. Trên đường đi ra đón xe, H đưa cho Q gói nilon nhỏ chứa 0,8484 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng (Gói ma túy do B trích ra để thử trước đó). Q cầm gói ma túy trên tay rồi cùng H ra xe taxi do anh Dương Thế Q1 điều khiển đi về thành phố K. Khi xe taxi đi đến trước số nhà H P, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang.
Tang vật chứng:
- 01 gói nilon chứa 0,8484 gam ma túy loại Methamphetamine;
- 01 bì nilon chứa 79,2940 gam ma túy loại Methamphetamine;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, mặt ốp sau có vết nứt, vỡ, kèm sim số;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, màn hình đã có vết nứt, vỡ, kèm sim số;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, màn hình đã bị nứt, vỡ, kèm sim số;
- 01 túi xách bằng vải, màu trắng, có dây đeo màu đen
Tại Cáo trạng số 72/CT-VKS-P1 ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Duy Q về các tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
2. Diễn biến phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H mức án từ 16 năm đến 17 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là từ 18 năm đến 20 năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
+ Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu bán sung ngân sách 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, mặt ốp sau có vết nứt, vỡ, kèm sim số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, màn hình đã có vết nứt, vỡ, kèm sim số;
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì có mặt trước ghi "I" và 01 bì có mặt trước ghi "II" và đều có đặc điểm chung là mặt trước phong bì có ghi số 952/PC09, ngày 03/11/2023; tại mép dán mặt sau có các dấu hình tròn của Phòng K, nội dung "CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ" và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thể M, Trần Đoàn T4 và Nguyễn Đại H3; và 01 túi xách bằng vải, màu trắng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, màn hình đã bị nứt, vỡ, kèm sim số.
+ Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Nguyễn Mạnh H 1.000.000₫ tiền thu lợi bất chính.
+ Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh H đồng ý với tội danh mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Sau phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có cậu ruột là liệt sỹ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chấp hành pháp luật tố tụng hình sự:
Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Vào ngày 26/10/2023, Nguyễn Mạnh H được đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê vận chuyển 80,1424 gam ma túy loại Methamphetamine từ huyện N, tỉnh Kon Tum đến thành phố P, tỉnh Gia Lai giao cho một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) với tiền công là 5.000.000 đồng. Trên đường đi, H rủ thêm Nguyễn Duy Q, nhưng không nói cho Q biết việc vận chuyển ma túy. Sau khi xuống thành phố P, B nhận ma túy từ H rồi trích 01 gói ma túy để dùng thử, do không đạt chất lượng nên B trả lại cho H toàn bộ ma túy để mang về lại cho T2. H lấy ma túy cất vào túi xách của mình, sau đó lấy ra 0,8484 gam ma túy loại Methamphetamine được B trích ra thử trước đó đưa cho Nguyễn Duy Q cầm để sử dụng, rồi cả hai đón xe đi về tỉnh Kon Tum. Khi đến trước số nhà H P, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lại thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phát hiện bắt giữ, đồng thời thu giữ trên người Q 01 gói nilon và trong túi xách của H 01 túi nilon.
Tại Bản giám định số 952/KL-KTHS ngày 03 tháng 11 năm 2023 kết luận: 01 túi nilon thu giữ trong túi xách của H là ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng 79,2940 gam; và 01 gói nilon thu giữ trong người Quý là ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng 0,8484 gam
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh H đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo H còn lấy 0,8484 gam ma túy loại Methamphetamine đưa cho bị cáo Nguyễn Duy Q cất giấu để sử dụng, nên bị cáo H và bị cáo Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố.
[3] Về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đây là vụ án bị cáo H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” có tích chất đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo H vận chuyển 79,2940 gam ma túy; ngoài ra bị cáo H còn lấy 0,8484 gam ma túy đưa cho bị cáo Nguyễn Duy Q cất giấu tàng trữ để cùng sử dụng. Hành vi các bị cáo đã vi phạm qui định của pháp luật chế độ quản lý, sử dụng chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có chú ruột Nguyễn Văn C là liệt sĩ có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Xét thấy, trong vụ án này bị cáo H là người có vai trò chính, trực tiếp liên hệ, vận chuyển ma túy và chủ động trích ma túy đưa cho Q; bị cáo H phạm 2 tội nên cẩn phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc. Bị cáo Q là đồng phạm với bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội do mình gây ra.
[5] Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Nguyễn Mạnh H 1.000.000₫ tiền thu lợi bất chính.
[6] Về vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên “T2” theo lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh H là người thuê H vận chuyển 80,1424 gam ma túy loại Methamphetamine từ huyện N, tỉnh Kon Tum đến thành phố P, tỉnh Gia Lai giao cho đối tượng B và đối tượng tên “Bi” là người mua ma túy của T2. Đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của T2 và B nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đang tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[7] Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu bán sung ngân sách 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, mặt ốp sau có vết nứt, vỡ, kèm sim số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, màn hình đã có vết nứt, vỡ, kèm sim số;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì có mặt trước ghi "I" và 01 bì có mặt trước ghi "II" và đều có đặc điểm chung là mặt trước phong bì có ghi số 952/PC09, ngày 03/11/2023; tại mép dán mặt sau có các dấu hình tròn của Phòng K, nội dung "CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ" và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thể M, Trần Đoàn T4 và Nguyễn Đại H3; và 01 túi xách bằng vải, màu trắng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, màn hình đã bị nứt, vỡ, kèm sim số.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2023.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Truy thu của bị cáo Nguyễn Mạnh H 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền thu lợi bất chính.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
* Tịch thu bán sung ngân sách:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh tím, mặt ốp sau có vết nứt, vỡ, kèm sim số;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đỏ, màn hình đã có vết nứt, vỡ, kèm sim số;
* Tịch thu tiêu hủy:
- 02 phong bì công văn của Phòng K: 01 bì có mặt trước ghi "I" và 01 bì có mặt trước ghi "II" và đều có đặc điểm chung là mặt trước phong bì có ghi số 952/PC09, ngày 03/11/2023; tại mép dán mặt sau có các dấu hình tròn của Phòng K, nội dung "CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ" và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thế M1, Trần Đoàn T4 và Nguyễn Đại H3;
- 01 túi xách bằng vải, màu trắng.
* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, màn hình đã bị nứt, vỡ, kèm sim số.
(Vật trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 104/2024 lập ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Duy Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Sinh |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vụ án hình sự về tội vận chuyển trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2023. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2023.
