TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 56/2024/HNGĐ - ST Ngày 26 - 8 - 2024 V/v Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Lê Thế Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thiên N, sinh năm 1999
Nơi thường trú: Thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1995
Nơi thường trú: Thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị Thiên N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa ngày 24/5/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn là 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, gia đình bên chồng lại gây khó khăn nên không có hạnh phúc. Kể từ tháng 7 năm 2023 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh H không có con chung.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H, anh H cư trú tại thôn T, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H, do anh H vắng nhà, nên ông Nguyễn Văn L- là bố đẻ anh H nhận thay và cam kết giao lại cho anh H, anh H đã biết việc chị N khởi kiện ly hôn, nhưng không đến Tòa án giải quyết và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N gửi cho Tòa án.
Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình anh H, ông Nguyễn Văn L- là bố đẻ anh H cho biết:
Chị N và anh H kết hôn năm 2022, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình ông, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh H ông không biết cụ thể, kể từ tháng 7/2023 vợ chồng sống ly thân. Gia đình ông đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã giao lại cho anh H, việc anh H không đến Tòa án làm việc là vì gia đình ông là người Công giáo, không được ly hôn, việc chị N muốn ly hôn do Tòa án giải quyết theo quy định. Quá trình chung sống chị N và anh H không có con chung và tài sản chung.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thiên N. Về hôn nhân giải quyết cho chị N được ly hôn anh H; Về con chung: Chị N và anh H không có con chung nên không xem xét; Về tài sản chung: chị N và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn giữa chị và anh H, anh H cư trú tại thôn T, xã P, thị xã N, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; chị N đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh H theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Thiên N và anh Nguyễn Văn H:
Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Đánh giá về mâu thuẫn và thực trạng quan hệ hôn nhân: Theo chị N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay, mỗi người ở mỗi nơi, bỏ mặc nhau, không ai quan tâm đến ai.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị N và anh H sống ly thân thời gian dài, không quan tâm đến nhau. Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh H đã biết Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, biết nội dung khởi kiện của chị N, nhưng không gửi bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án, không đến Tòa tham gia hòa giải, thể hiện anh H không tha thiết níu kéo hạnh phúc gia đình. Thực tế hôn nhân giữa chị N và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị N và anh H không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Chị N và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị N khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 51, 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thiên N: Chị Đỗ Thị Thiên N được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Thiên N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007047 ngày 20/02/2024.
- Quyền kháng cáo: Chị N và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 56/2024/HNGĐ - ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N ly hôn anh H
