Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông K'My Na

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Hinh; ông Lê Văn Trường.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 14-6-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/HSST-QĐ ngày 27-6-2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Quốc T (tên gọi khác: Ti); Sinh năm 1996 tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Đình T1 và bà Tăng Lê Viễn P.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 141/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-4-2021. Chưa được xóa án tích.

Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 65/2021/HS-ST ngày 21/9/2021. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-02-2023, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04-3-2024, chuyển tạm giam từ ngày 10-3-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D.

+ Người làm chứng:

  1. Anh Võ Văn Sĩ D, sinh năm 1996
  2. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Anh Hà Đức H, sinh năm 1996
  4. Địa chỉ: Số A P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  5. Anh Nguyễn Lâm V, sinh năm 1996
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 04-3-2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an thị trấn D kiểm tra tại số A P, tổ dân phố I, thị trấn D, huyện D, phát hiện bắt quả tang bị cáo Lương Quốc T có hành vi cất giấu 03 gói ny lon trong suốt có chứa tinh thể màu, bị cáo cất giấu 02 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín, kích thước 9,5 x 06 (cm) và 01 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín kích thước: 8,5 x 05 (cm) chứa ma túy trên trong túi quần bên trái phía trước bị cáo đang mặc. Sau đó đến nhà của anh Hà Đức H tại 1 P, tổ dân phố I, thị trấn D, huyện D để phụ H sửa xe, tại đây có Nguyễn Lâm VHà Đức H, bị cáo không nói cho anh H1 và anh H biết về số ma túy bị cáo cất giấu. Khi mọi người đang sửa xe thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: 01 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín, kích thước: 8,5 x 05 (cm) bên trong chứa ma túy đá; 02 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín, kích thước: 9,5 x 06 (cm) bên trong chứa ma túy đá (Tất cả đã được niêm phong gửi giám định và hoàn mẫu lại sau giám định). Số tiền 300.000 đồng (01 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng; 05 tờ polyme mệnh giá 20.000 đồng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số: 0972503031 của bị cáo Lương Quốc T và 01 điện thoại di động hiệu MEIZU, gắn sim số: 0973974239 của anh Võ Văn Sĩ D. Ngoài ra cơ quan cảnh sát điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo T, của anh H, anh V và anh D nhưng không phát hiện gì thêm.

Qúa trình điều tra bị cáo Lương Quốc T khai nhận, bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2015. Ngày 02-3-2024, bị cáo đón xe khách đi từ huyện D đi TP. mục đích để tìm người mua ma túy về sử dụng và nếu có người hỏi mua thì sẽ bán để kiếm lời phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Tại khu vực Phường D, Quận E, TP. thì bị cáo gặp một nam thanh niên tên H2 (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) và hỏi mua ma túy đá của H2 với số tiền 4.000.000 đồng, Hòa đồng ý. Bị cáo đưa cho H2 số tiền 4.000.000 đồng và đứng đợi H2 một lúc thì H2 quay lại đưa cho bị cáo 01 gói nylon trong suốt nắp kéo kín bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất giấu trong người và mang ma túy về nhà ở tại Thôn G, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng sau đó T lấy một ít ma túy vừa mua được phân chia vào 02 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín, kích thước 9,5 x 06 (cm) để tiện cho việc sử dụng ma túy của bản thân. Từ ngày 02-3-2024 đến ngày 04-3-2024, bị cáo đã sử dụng số ma túy trong 02 gói nylon này được 03 lần. Đối với số ma túy còn lại trong gói nylon trong suốt có nắp kéo kín kích thước: 8,5 x 05 (cm) thì bị cáo cất giấu để bán cho người nghiện để thu lợi bất chính. Vào khoảng 17 giờ ngày 03-3-2024, anh Võ Văn S D sử dụng tài khoản Facebook Messenger tên “Pée D1” nhắn tin cho tài khoản Messenger tên “Hoạ Bì” của bị cáo hỏi mua ma túy đá với số tiền 300.000 đồng, bị cáo T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, tại khu vực tổ dân phố I, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đưa cho anh D1 01 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín bên trong chứa ma túy đá và nhận từ anh D1 số tiền 300.000 đồng (01 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng, 05 tờ polyme mệnh giá 20.000 đồng). Sau khi mua được ma túy từ bị cáo T, anh D1 cất giấu trong người và mang về nhà ở tại số A T, tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng sử dụng hết một mình.

Tại Bản kết luận giám định số: 320/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 11,3259g (một một phẩy ba hai năm chín gam), loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể (M2) đựng trong hai gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5493g (một phẩy năm bốn chín ba gam), loại Methamphetamine. Methamphetamnine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 13-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Lương Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q, i khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo có ông nội Lương Đình D2 là người có công với cách mạng nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý.

Tình tiết tăng nặng: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 65/2021/HS-ST ngày 21-9-2021. Tại bản án trên nhận định bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-02-2023, chưa được xóa án tích đến ngày 04-3-2024 bị cáo tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự, là tình tiết tăng nặng định khung theo định điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không thắc mắc khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng.

Đối với đối tượng tên “H2” đã bán ma túy cho bị cáo Lương Quốc T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch và nơi ở nên chưa tiến hành điều tra làm rõ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D sẽ tiếp tục xác minh.

Đối với anh Võ Văn S1 D1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, D1 đã sử dụng hết số ma túy mua được của bị cáo T, anh D1 không liên quan gì đến ma tuý mà bị cáo T2 nên hành vi của anh Võ Văn S1 D1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của anh D1.

Đới với anh Nguyễn Lâm VHà Đức H không biết, không liên quan đến hành vi cất giấu ma túy của bị cáo T. Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo Lương Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q, i khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xét xử bị cáo Lương Quốc T từ 07 đến 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và từ 05 đến 6 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng Điều 55 tổng hợp hình phạt của hai tội trên.

Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy sau giám định đề nghị Tịch thu tiêu hủy: 01 phòng bì màu trắng số 320/2024/-PC09, có ghi chữ “ Hoàn mẫu: M1: 10,7796 (g) M2: 1,3264 9g) có chữ ký của Ngô H3, Phạm Thị D3, Nguyễn Tùng L và có hình dấu tròn màu đỏ của phòng K- Công an tỉnh L; 01 phòng bì màu trắng số 320/2024/-PC09, có ghi chữ “ Bao gói vật chứng” có chữ ký của Ngô H3, Phạm Thị D3, Nguyễn Tùng L và có hình dấu tròn đỏ của phòng K- Công an tỉnh L

Tịch thu sung công qũy Nhà nước số tiền 300.000 đồng (01 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng; 05 tờ polyme mệnh giá 20.000 đồng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số: 0972503031 của bị cáo Lương Quốc T và 01 điện thoại di động hiệu MEIZU, gắn sim số: 0973974239 của anh Võ Văn Sĩ D

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà anh Nguyễn Lâm V vắng mặt lần nhưng việc vắng mặt của anh V không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án. Hôi đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lương Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 04-3-024, tại số A P, tổ dân phố I, thị trấn D, huyện D, bị cáo Lương Quốc T có hành vi cất giấu 1,5493g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng dần cho bản thân và cất giấu 11,3259g ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán cho người có nhu cầu sử dụng ma túy để thu lợi bất chính, cụ thể: Vào ngày 03-3-2024, bị cáo Lương Quốc T đã bán cho anh Võ Văn S D 01 gói nylon trong suốt bên trong có chứa ma túy đá với số tiền 300.000 đồng.

Căn cứ bản kết luận giám định số: 320/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 11,3259g (một một phẩy ba hai năm chín gam) loại Methamphetamine và Mẫu tinh thể (M2) đựng trong hai gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5493g (một phẩy năm bốn chín ba gam) loại Methamphetamine Methamphetamnine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Là ma tuý bị cáo dùng để cất giấu sử dụng và bán kiếm lời để thu lợi bất chính.

[3] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo, phù hợp với các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ đã có đủ căn cứ xét xử bị cáo Lương Quốc T về tội về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đúng như tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, trong tình hình tội phạm về ma túy và người sử dụng ma túy hiện nay có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo biết rõ Tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện vi vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và có ông nội là gia đình có công với cách mạng nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền án về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuy” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý, Tại bản án số 65/2021/HS-ST ngày 21-9-2021 nhận định bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-02-2023, chưa được xóa án tích đến ngày 04-3-2024 bị cáo tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự, là tình tiết tăng nặng định khung theo định điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phòng bì màu trắng số 320/2024/-PC09, có ghi chữ “ Hoàn mẫu: M1: 10,7796 (g) M2: 1,3264 9g) có chữ ký của Ngô H3, Phạm Thị D3, Nguyễn Tùng L và có hình dấu tròn màu đỏ của phòng K- Công an tỉnh L; 01 phòng bì màu trắng số 320/2024/-PC09, có ghi chữ “ Bao gói vật chứng” có chữ ký của Ngô H3, Phạm Thị D3, Nguyễn Tùng L và có hình dấu tròn đỏ của phòng K- Công an tỉnh L. Đây là tang vật của vụ án số ma túy còn lại sau giám định thuộc chất cấm theo quy định pháp luật.

Tịch thu sung công qũy Nhà nước số tiền 300.000 đồng (01 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng; 05 tờ polyme mệnh giá 20.000 đồng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số: 0972503031 của bị cáo Lương Quốc T và 01 điện thoại di động hiệu MEIZU, gắn sim số: 0973974239 của anh Võ Văn S D là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và anh D dùng để nhắn tin mua mua ma túy của bị cáo T đây là công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[8] Đối với đối tượng tên “H2” đã bán ma túy cho bị cáo Lương Quốc T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch và nơi ở nên chưa tiến hành điều tra làm rõ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau là đúng quy định.

[9] Đối với anh Võ Văn S1 D có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, D đã sử dụng hết số ma túy mua được của bị cáo T, anh D không liên quan gì đến ma tuý mà bị cáo T3 giấu nên hành vi của anh Võ Văn S1 D không đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của anh D là đúng quy định.

[10] Đới với anh Nguyễn Lâm VHà Đức H không biết, không liên quan đến hành vi cất giấu ma túy của bị cáo T. Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là phù hợp.

[11] Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Lương Quốc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Mua bán trái phép chất ma túy “

Áp dụng điểm c khoản 1, điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Quốc T 06 (S2) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm q, i khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Quốc T 08 ( T4) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Lương Quốc T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 14 (Mười bốn) năm tù, Thời hạn tù tính từ ngày 04-3-2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sang năm 2017, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng số 320/2024/-PC09, có ghi chữ “ Hoàn mẫu: M1: 10,7796 (g) M2: 1,3264 9g) có chữ ký của Ngô H3, Phạm Thị D3, Nguyễn Tùng L và có hình dấu tròn màu đỏ của phòng K- Công an tỉnh L; 01 phong bì màu trắng số 320/2024/-PC09, có ghi chữ “ Bao gói vật chứng” có chữ ký của Ngô H3, Phạm Thị D3, Nguyễn Tùng L và có hình dấu tròn đỏ của phòng K- Công an tỉnh L theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh ngày 13 tháng 6 năm 2024.

Tịch thu sung công qũy Nhà nước số tiền 300.000 đồng (01 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng; 05 tờ polyme mệnh giá 20.000 đồng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số: 0972503031 của bị cáo Lương Quốc T và 01 điện thoại di động hiệu MEIZU, gắn sim số: 0973974239 của anh Võ Văn S D được đựng trong phong bì màu trắng được niêm phong dán kín có chữ ký của Trần Văn Đ, Nguyễn Xuân N, Lương Quốc T, Lê Công Á và hình dấu tròn của Công an thị trấn D (dánh số 03); 01 phong bì màu trắng được niêm phong dán kín có chữ ký của Lê Công Á, Phạm Tiến T5, Kiều Xuân G, Võ Văn Sĩ D và hình dấu tròn của Công an thị trấn D (đánh số 05) và 01 phong bì màu trắng được niêm phong dán kín có chữ ký của Lê Công Á, Phạm Tiến T5, Kiều Xuân G, Lương Quốc T và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn D theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh ngày 13 tháng 6 năm 2024.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

-Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Công an huyện Di Linh;
  • - Bị cáo (để thi hành);
  • - Sở TP tỉnh Lâm Đồng;
  • - THA hình sự; Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

K' My Na

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger