TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 25-7-2024.
V/v: Xin ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học
Các hội thẩm nhân dân:
- 1- Bà Lê Thị Chung;
- 2- Ông Bùi Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K' Dem – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024. Về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09-7-2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Kim K; sinh năm 1993.
Địa chỉ: Số F thôn L, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Bà Châu Thị N; sinh năm 1993
Địa chỉ cư trú cuối cùng: Số F thôn L, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đã bị Toà án nhân dân huyện Di Linh tuyên bố mất tích tại Quyết định số 01/2024/QĐST-DS ngày 24-4-2024.
Ông K, bà N vắng mặt tại phiên tòa; ông K có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai, ông Đỗ Kim K trình bày: Ông và bà N tự nguyện kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ngày 06-10-2019 bà N tự ý bỏ nhà đi từ đó đến nay không quay về, ông Đỗ Kim K đã tìm kiếm nhưng không có kết quả, bà Châu Thị N không có liên lạc gì với gia đình, không ai biết bà N hiện đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã tuyên bố bà N mất tích tại Quyết định 01/2024/QÐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024. Từ đó đến nay cũng không thấy bà N trở về. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bà N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thùy D, sinh ngày 08-5-2017 và Đỗ Thùy A, sinh ngày 06-7-2018, hiện nay các con đang sống với ông. Khi ly hôn ông xin trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; tài cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Bà Châu Thị N đã bị Tòa án nhân dân huyện Di Linh tuyên bố mất tích tại Quyết định 01/2024/QÐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Ủy ban nhân dân xã T nhưng bà N không có mặt tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K. Xử cho ông K được ly hôn bà N; giao các con chung cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng; ông K chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là ông Đỗ Kim K vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là bà Châu Thị N vắng mặt và đã bị Tòa án tuyên bố mất tích tại Quyết định số 01/2024/QÐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Ủy ban nhân dân xã T. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 338 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Kim K và bà Châu Thị N tự nguyện kết hôn năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ngày 06-10-2019 bà N tự ý bỏ nhà đi từ đó đến nay không quay về, ông Đỗ Kim K đã tìm kiếm nhưng không có kết quả, bà Châu Thị N không có liên lạc gì với gia đình, không ai biết bà N hiện đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Tòa án đã tuyên bố bà N mất tích tại Quyết định 01/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024. Từ đó đến nay cũng không thấy bà N trở về. Nay ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bà N. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho ông K được ly hôn với bà N là phù hợp.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thùy D, sinh ngày 08-5-2017 và Đỗ Thùy A, sinh ngày 06-7-2018, hiện nay các con đang sống với ông K. Khi ly hôn ông xin trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu bà N phải cấp dưỡng nuôi con; Bà N đã bị Toà án tuyên bố mất tích. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dưỡng con của các bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao các con chung cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng; bà N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Theo ông K thì vợ chồng không có tài sản chung; tài sản nợ chung và cho vay chung không có, khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Bà N đã bị Toà án tuyên bố mất tích nên không đề cập giải quyết về tài sản trong vụ án này là phù hợp.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là phù hợp
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 338 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 51, Điều 56; Điều 81 ; Điều 82 ; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Kim K được ly hôn bà Châu Thị N.
- Về con chung: Giao các con chung tên Đỗ Thùy D, sinh ngày 08-5-2017 và Đỗ Thùy A, sinh ngày 06-7-2018 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng ;
Bà N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được cản trở.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định của pháp luật.
3) Về án phí: Ông Đỗ Kim K chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu số 0005861 ngày 27-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(ông K đã nộp đủ án phí).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đới Văn Học |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
