TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/7/2024 V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bính
- Bà Trần Thị Thanh Nga
Thư ký phiên toà: Ông Biện Anh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:
Bà Cao Thị Hường, Kiểm sát viên.
Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 648/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023, về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 446/2024/QĐST-DS ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Ngọc D1, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà Huỳnh Thị D, ông Trần Ngọc D1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Huỳnh Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị D và ông Trần Ngọc D1 tự nguyện tìm hiểu, quen biết nhau và sống chung, không đăng ký kết hôn từ năm 1988. Quá trình chung sống không hạnh phúc. Ông D1 thường xuyên nhậu say về nhà cãi vả, đánh đập vợ con. Vì thương các con nên bà D nhẫn nhịn, chịu đựng. Đến nay bà D không còn chịu đựng được nữa, ông D1 cũng không thay đổi bản thân nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị D và ông Trần Ngọc D1.
-Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh D2, sinh ngày 29/6/1988, giới tính nam và Trần Minh D3, sinh ngày 14/10/1993, giới tính nam. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung.
-Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Ngọc D1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Trần Ngọc D1 đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 28/3/2024 nhưng bị đơn ông Trần Ngọc D1 không đến tòa tham gia tố tụng và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị D, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị D và ông Trần Ngọc D1. Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị D thì đây là vụ án: “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Bị đơn ông Trần Ngọc D1 cư trú tại khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn ông Trần Ngọc D1 không có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn Huỳnh Thị D cung cấp cũng như yêu cầu phản tố. Nguyên đơn bà D nộp đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải giữa bà D và ông D1. Vì vậy vụ án này không hòa giải được.
[3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, mà bị đơn ông Trần Ngọc D1 vẫn vắng mặt không rõ lý do nên HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[4] Xét yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Huỳnh Thị D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Huỳnh Thị D và ông Trần Ngọc D1 tự nguyện chung sống nhưng không đăng ký kết hôn từ năm 1988. Đây là quan hệ hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật công nhận. Nay bà D yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà D và ông D1 là phù hợp theo quy định tại Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
[5] Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh D2, sinh ngày 29/6/1988, giới tính nam và Trần Minh D3, sinh ngày 14/10/1993, giới tính nam. Các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Bà Huỳnh Thị D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1/Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
2/ Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Huỳnh Thị Dư. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị D và ông Trần Ngọc D1.
- Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh D2, sinh ngày 29/6/1988, giới tính nam và Trần Minh D3, sinh ngày 14/10/1993, giới tính nam. Các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001092 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Bà Huỳnh Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.
Án xử sơ thẩm công khai, bà Huỳnh Thị D có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Ngọc D1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Công |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
