|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/DS-ST
Ngày: 23 - 5 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch
vụ môi giới sản phẩm đất nền”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh
2. Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 867/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ môi giới sản phẩm đất nền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 218/QĐ – HPT ngày 23/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thiện T, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số A, khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D).
Địa chỉ: Lô C, đường N, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn V – Tổng giám đốc.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH D1.
Địa chỉ: Số A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trương Bích T1 – Tổng giám đốc.
(Ông T có đơn xin vắng mặt, ông V và bà T1 vắng mặt không rõ lý do)
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và phần trình bày trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Thiện T trình bày:
Thông qua sự giới thiệu của một người bạn, ông biết đến Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D) (sau đây viết tắt là Công ty D) là một Công ty môi giới bất động sản, Công ty D giới thiệu sẽ hỗ trợ cho ông rất nhiều vấn đề liên quan đến việc mua nền đất ở địa bàn thành phố B. Công ty D đề nghị ông ký hợp đồng dịch vụ môi giới để giúp ông trong việc mua nền đất, ông đã tin tưởng và ký hợp đồng dịch vụ môi giới số D32/DXDNB/DVMG-BGT với Công ty D vào ngày 03/4/2018 (gọi tắt là hợp đồng môi giới) với số tiền là 261.524.500 đồng. Ngày 31/5/2018 ông đã thanh toán toàn bộ phí dịch vụ môi giới nói trên cho Công ty D (có phiếu thu kèm theo).
Theo quy định tại mục 1.1 Điều 1 hợp đồng môi giới thì Công ty D phải thực hiện các công việc sau đây cho ông, cụ thể:
- Phân tích, đánh giá, dự báo các điểm thuận lợi, bất lợi, các rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải khi mua sản phẩm.
- Tham vấn cho khách hàng các vấn đề liên quan đến vị trí, diện tích, phong thủy của sản phẩm và tất cả các vấn đề khác có liên quan theo yêu cầu khách hàng để đảm bảo khách hàng có đầy đủ các thông tin, cơ sở để quyết định việc ký kết hợp đồng nguyên tắc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Tham vấn và hỗ trợ bên B chuẩn bị các hồ sơ giấy tờ, tài liệu cần thiết để bên B kết và thực hiện hợp đồng nguyên tắc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Tham vấn cho bên B về các nghĩa vụ tài chính, các khoản thuế, phí có nghĩa vụ phải đóng.
- Tham vấn cho bên B các quy định mà bên B và chủ đầu tư có nghĩa vụ phải tuân thủ trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng nguyên tắc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Liên hệ, đôn thúc, phối hợp, hỗ trợ bên B giải quyết các vấn đề có liên quan đến hợp đồng nguyên tắc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư.
- Tham vấn, hỗ trợ bên B thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bên B theo hợp đồng nguyên tắc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Tham vấn, hỗ trợ bên B liên hệ với các tổ chức tín dụng trong trường hợp bên B có nhu cầu vay vốn để thanh toán số tiền còn lại cho chủ đầu tư (nếu có).
Ngoài ra tại điều 3 của hợp đồng cũng quy định nghĩa vụ của bên Công ty D là:
- Hướng dẫn cụ thể và thuyết minh chi tiết cho bên B (ông) biết về vị trí địa lý, tiến độ thực hiện cơ sở hạ tầng, sản phẩm khách hàng lựa chọn.
- Tham vấn về sản phẩm, hướng dẫn hoặc đưa đón bên B tham quan khu vực thực tế.
- Bên A chịu mọi chi phí tham vấn, môi giới, đưa đón, giới thiệu cho bên B
- Tham vấn, hỗ trợ khách hàng liên hệ với các tổ chức tín dụng khi khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng để thanh toán các khoản phí, lệ phí khi mua sản phẩm.
- Hỗ trợ khách hàng ký kết hợp đồng: hướng dẫn thủ tục chuyển khoản hoặc tiền mặt một cách chính xác, đơn giản
- Đôn đốc chủ đầu tư khu đất thực hiện các nghĩa vụ đối với khách hàng như tiến độ giao nền, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Hỗ trợ liên hệ khách hàng và chủ đầu tư khi có thông báo, thủ tục cần thiết.
Thực tế thì sau khi Công ty D ký hợp đồng môi giới với ông và ông thanh toán xong tiền thì Công ty chỉ hướng dẫn ông nên mua dự án của Công ty TNHH D1, cho ông ký hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Công ty TNHH D1, thu tiền hộ cho Công ty TNHH D1, ngoài ra không thực hiện đầy đủ các công việc như đã ký với ông tại mục 1.1 Điều 1 và Điều 3 của hợp đồng môi giới, thậm chí Công ty D cũng không đưa ông đi tham quan dự án thực tế mà ông phải tự đi bằng chi phí riêng của mình.
Bản thân ông luôn thực hiện việc thanh toán đầy đủ cho cả Công ty D và Công ty TNHH D1 theo đúng tiến độ theo các hợp đồng đã ký thế nhưng sau này khi Công ty TNHH D1 vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng nguyên tắc đã ký với ông (Công ty TNHH D1 chỉ giao nền cho ông còn việc ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không thực hiện được) thì Công ty D bỏ mặc ông, không hỗ trợ ông được bất kỳ việc gì trong việc liên hệ làm việc với Công ty TNHH D1, thậm chí khi ông có đơn khởi kiện Công ty TNHH D1 tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa thì Công ty D (với tư cách là người liên quan trong vụ án) cũng không hợp tác, không lên làm việc theo giấy triệu tập của Tòa.
Từ tất cả các vấn đề trên thể hiện Công ty D đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng môi giới đã ký với ông. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, do đó ông làm đơn khởi kiện Công ty D đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D) hoàn trả lại cho ông toàn bộ số tiền dịch vụ môi giới là: 261.524.500 đồng và thanh toán số tiền lãi kể từ ngày 31/5/2018 (ngày ông thanh toán tiền cho Công ty Cổ phần D) đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm 23/5/2024 là: 5 năm 11 tháng 23 ngày x 261.524.500 đồng x 10%/năm = 156. 382.292 đồng. Tổng số tiền yêu cầu là: 417.907.792 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, chín trăm linh bảy nghìn, bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Vào ngày 08/12/2022 Tòa án thụ lý đơn khởi kiện bổ sung của ông T nội dung yêu cầu: Tuyên hủy hợp đồng dịch vụ môi giới số D32/ĐXĐNB/DVMG-BGT ký ngày 03/4/2018 giữa ông T và Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D).
Đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thiện T, hủy hợp đồng dịch vụ môi giới số D32/ĐXDNB/DVMG-BGT ký ngày 03/4/2018 giữa ông Trần Thiện T và Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D), buộc bị đơn Công ty Cổ phần D (tên cũ Công ty Cổ phần D) phải hoàn trả cho ông Trần Thiện T số tiền gốc 261.524.500 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ môi giới sản phẩm đất nền” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn Công ty Cổ phần D (tên cũ Công ty Cổ phần D) hiện đang có địa chỉ trụ sở tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩn quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện theo pháp luật của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên đã được tống đạt (niêm yết) hợp lệ 02 lần (quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và quyết định hoãn phiên tòa) nhưng vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
Vào ngày 03/4/2018 giữa ông Trần Thiện T với Công ty Cổ phần D (nay là Công ty Cổ phần D) có thực hiện giao dịch ký kết hợp đồng dịch vụ môi giới sản phẩm đất nền dự án khu dân cư P số D32/DXDNB/DVMG-BGT với số tiền là 261.524.500 đồng. Ngày 31/5/2018 ông T đã thanh toán toàn bộ phí dịch vụ môi giới nói trên cho Công ty D như hợp đồng đã ký. Tuy nhiên, sau đó Công ty D không thực hiện nghĩa vụ dịch vụ môi giới cho ông T đúng với nội dung thoả thuận trong hợp đồng. Vì vậy dẫn đến ông T không thực hiện được việc chuyển nhượng đất nền từ Công ty TNHH D1. Do Công ty TNHH D1 vi phạm thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T nên ông T đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa yêu cầu hủy bỏ hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2018 giữa ông T với Công ty TNHH D1, đồng thời ông T yêu cầu Công ty TNHH D1 hoàn trả lại cho ông số tiền là 718.920.000đ và tiền lãi là 179.730.000 đồng. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 145/2022/DSST ngày 27/10/2022 của TAND thành phố Biên Hòa giữa nguyên đơn ông Trần Thiện T với bị đơn Công ty TNHH D1 đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc hủy hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên, Công ty TNHH D1 đồng ý thanh toán cho ông T tổng cộng số tiền là 800.000.000 đồng. Tại bản án này ông T đã rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần D về số tiền dịch vụ môi giới là 261.524.500 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.
Như vậy, căn cứ vào bản án trên thì giữa ông T với Công ty TNHH D1 đã không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Công ty TNHH D1 vi phạm nghĩa vụ. Tại Điều 5, Điều 6 quy định về điều khoản chấm dứt, thanh lý hợp đồng môi giới thì Công ty Cổ phần D đã vi phạm nghĩa vụ đối với ông Trần Thiện T.
Xét thấy: Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho phía bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được biết nhưng người đại diện theo pháp luật của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do đến nay cũng không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng pháp lý hiện tại của Công ty Cổ phần D và Công ty TNHH D1. Kết quả xác minh Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Đ cho biết hiện nay trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Công ty Cổ phần D, Công ty TNHH D1 ở tình trạng đang hoạt động, chưa thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp hoặc tạm ngừng kinh doanh.
Do Công ty Cổ phần D đã vi phạm nghĩa vụ dịch vụ môi giới với ông T làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, vì vậy việc ông T yêu cầu huỷ hợp đồng dịch vụ môi với giữa ông với Công ty Cổ phần D đồng thời yêu cầu hoàn trả lại cho ông T số tiền dịch vụ môi giới 261.524.500 đồng là có cơ sở nên cần được chấp nhận.
Đối với yêu cầu của tiền lãi: ông T yêu cầu Công ty Cổ phần D phải trả lãi cho ông kể từ ngày 31/5/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/5/2024 là: 5 năm 11 tháng 23 ngày x 261.524.500 đồng x 10%/năm = 156. 382.292 đồng. Tổng số tiền yêu cầu là: 417.907.792 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, chín trăm linh bảy nghìn, bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng). Xét thấy: Tại khoản 3 Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả của việc huỷ hợp đồng: “Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường”. Đối chiếu với qui định trên việc ông Trần Thiện T yêu cầu Công ty Cổ phần D phải trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ 10%/năm trên số tiền gốc 261.524.500 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
* Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D1, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Công ty nhưng đại diện Công ty không đến Tòa án để làm việc. Tuy nhiên, Tòa án đã giải quyết quan hệ giữa ông Trần Thiện T với Công ty TNHH D1 bằng một bản án khác và đã có hiệu lực pháp luật, do đó không đặt ra xem xét trong vụ kiện này.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào các Điều 401, Điều 413, Điều 419, Điều 422, Điều 423, Điều 424, Điều 427 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 và ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy hợp đồng dịch vụ môi giới số D32/ĐXDNB/DVMG-BGT ký ngày 03/4/2018 giữa ông Trần Thiện T và Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D) đồng thời buộc Công ty Cổ phần D phải hoàn trả cho ông Trần Thiện T số tiền 417.907.792 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, chín trăm linh bảy nghìn, bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng).
[4] Về án phí DSST: Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 401, Điều 413, Điều 419, Điều 422, Điều 423, Điều 424, Điều 427 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thiện T đối với Công ty Cổ phần D:
- - Hủy hợp đồng dịch vụ môi giới số D32/ĐXĐNB/DVMG-BGT ký ngày 03/4/2018 giữa ông Trần Thiện T và Công ty Cổ phần D (tên cũ là Công ty Cổ phần D).
- - Buộc Công ty Cổ phần D phải hoàn trả cho ông Trần Thiện T số tiền 417.907.792 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, chín trăm linh bảy nghìn, bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng) (Trong đó tiền gốc: 261.524.500 đồng (Hai trăm sáu mươi mốt triệu, năm trăm hai mươi tư nghìn, năm trăm đồng) và tiền lãi: 156. 382.292 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu, ba trăm tám mươi hai nghìn, hai trăm chín mươi hai đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hết các khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Bị đơn Công ty Cổ phần D phải chịu 20.716.000 đồng (Hai mươi triệu, bảy trăm mười sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn ông Trần Thiện T tổng số tiền 9.753.000 đồng (Chín triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0005236 ngày 30/11/2022 và 0005387 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phan Thị lệ P vắng mặt tại phiên thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thúy |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA |
Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng dịch vụ môi giới sản phẩm đất nền
- Số bản án: 56/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ môi giới sản phẩm đất nền
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tâm - CTCP Dịch vụ và đầu tư Đông Nam Bộ
