Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 56/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 11 - 2023

V/v: Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Văn Dương
  2. Ông: Lê Thế Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị T – Sinh năm: 2000

HKTT: Thôn Thanh B, xã Thanh X, huyện Như X, tỉnh Thanh H.

- Bị đơn: Anh Lô Văn Q – Sinh năm: 1995

HKTT: Thôn Đồng L, xã Tân Trị, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh H.

Hiện đang chấp hành án tại: Đội 31, phân trại số 1, trại giam Xuân H đóng tại xã Lưu Vinh S, huyện Thạch H, tỉnh Hà T.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Lò Thị T trình bày như sau: Chị và anh Lô Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh X, huyện Như X, tỉnh Thanh H vào ngày 21/11/2018. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được khoảng gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có niềm tin với nhau; cuộc sống không hạnh phúc. Đến giữa năm 2019 thì chị và anh Q sống ly thân cho đến tháng 9/2022, anh Q bị TAND Thị xã Nghi Sơn xử phạt 07 năm 09 tháng tù, hiện nay anh đang chấp hành án tại trại giam Xuân Hà. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Q không có con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quan điểm trình bày của anh Lô Văn Q:

Về hôn nhân: Anh và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hai vợ chồng sinh sống tại thôn Đồng Lách, xã Tân Trường, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa. nay chị T làm đơn ly hôn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có con chung

Về tài sản và công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa cả anh Q và chị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm theo nội dung bản tự khai đã nộp cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị T. Về hôn nhân: Xử cho chị T được ly hôn với anh Q. Về con chung và về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lò Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lô Văn Q là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn có HKTT trên địa bàn thị xã Nghi Sơn nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cả anh Q và chị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị T và anh Q có xảy ra mâu thuẫn, xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Do anh Q đang chấp hành án tại trại giam Xuân Hà, tỉnh Hà Tĩnh nên TAND Thị xã Nghi Sơn không thể tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTDS vì vậy HĐXX căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh Q.

[3] Về con chung: Không có con chung

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị T.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị T được ly hôn với anh Lô Văn Q
  2. Về con chung: Không có con chung
  3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  4. Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0012672, ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã thi hành xong phần án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự có Qkháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Thanh X, huyện Như X, Thanh H.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2023/HNGĐ-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 56/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Lô Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh X, huyện Như X, tỉnh Thanh H vào ngày 21/11/2018. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được khoảng gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có niềm tin với nhau, cuộc sống không hạnh phúc. Đến giữa năm 2019 thì chị và anh Q sống ly thân cho đến tháng 9/2022, anh Q bị TAND Thị xã Nghi Sơn xử phạt 07 năm 09 tháng tù, hiện nay anh đang chấp hành án tại trại giam Xuân Hà. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger