Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/7/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

---

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
  • Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
  • Ông Mai Văn Duẩn.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/02/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/6/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982.
  • HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
  • Hiện đang trú tại: Đài Loan (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1980.
  • HKTT: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Trần Văn H kết hôn với nhau ngày 08/10/2001 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, chị và anh H có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Vợ chồng sau khi kết hôn sống hạnh phúc thời gian đầu. Thời gian sau, chị và anh H có phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi khó giải quyết, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống về kinh tế và gia đình, con cái dẫn đến cả 2 bên không còn tiếng nói chung. Năm 2014, chị đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, hiện tại vợ chồng ly thân nhiều năm, cả 02 đều có cuộc sống riêng và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy, chị L đề nghị được ly hôn anh H.

Con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày 27/7/2005 và cháu Trần Chí K, sinh ngày 03/7/2010. Về cháu Trần Minh Q hiện tại cháu đã đủ tuổi trưởng thành, có thể tự quyết định của sống của mình. Đối với cháu Trần Chí K hiện nay đang ở với anh Trần Văn H, khi ly hôn do điều kiện công việc ở nước ngoài nên chị đề nghị giao cháu K cho anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

Do công việc bận, nên chị L xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Trần Văn H đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần thông qua mẹ đẻ của anh, tuy nhiên anh H không lên làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành ghi lời khai cháu Trần Chí K, sinh ngày 03/7/2010; cháu K trình bày nếu bố mẹ cháu không ở với nhau nữa thì cháu có nguyện vọng ở với bố.

Tại phiên toà nguyên đơn chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 37, 38, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Văn H.

Về con chung: Giao cháu Trần Chí K, sinh ngày 03/7/2010 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Vấn đề cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H và đề nghị giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L thì bị đơn là anh Trần Văn H có hộ khẩu thường trú tại: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; chị L hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Trần Văn H trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh H đều không lên làm việc và vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn H kết hôn ngày 08/10/2001 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, tại thời điểm kết hôn chị L và anh H đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, theo chị L trình bày cuộc sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi khó giải quyết, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống về kinh tế và gia đình, con cái dẫn đến cả 2 bên không còn tiếng nói chung. Năm 2014 chị L đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, hiện tại chị và anh H ly thân nhiều năm, cả 02 đều có cuộc sống riêng và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Văn H.

[2.2]. Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung là cháu Trần Minh Q, sinh ngày 27/7/2005 và cháu Trần Chí K, sinh ngày 03/7/2010. Về cháu Trần Minh Q hiện tại cháu đã đủ tuổi trưởng thành, có thể tự quyết định của sống của mình. Cháu Trần Chí K, sinh ngày 03/7/2010 hiện nay đang ở với anh H và có nguyện vọng tiếp tục ở với anh H. Do vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển của cháu, cần tiếp tục giao cháu K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trần Văn H.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Chí K, sinh ngày 03/7/2010 cho anh Trần Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị L được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000112 ngày 06/02/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhân:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã nơi cư trú của đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tính

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger