Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 21/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Linh và ông Đinh Công Định

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thị Huệ - Cán bộ Tòa án

nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/ QĐXXST - HS ngày 17 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/ HSST- QĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/ HSST- QĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Đ; Sinh ngày 07/3/1969. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường A, TP T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Đồng Văn V (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T - Sinh năm 1938; Vợ, con: Không;

- Tiền án; Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 30/11/2020, bị Công an thành phố T xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Trung T1, sinh năm 1987
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Anh Lê Anh P, sinh năm 1982.
  4. Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  5. Anh Trần Giang N, sinh năm 1980.
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  7. Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1992.
  8. Địa chỉ: T, thôn H, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  9. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985
  10. Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Từ tháng 12/2021 đến tháng 10/2023, tại địa bàn thành phố T, Đ, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang sử dụng 60.000.000 đồng tiền gốc ban đầu rồi quay vòng cho nhiều người vay với tổng số tiền là 550.000.000 đồng, với lãi suất cao từ 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày đến 10.000.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương lãi suất từ 182,5%%/năm đến 365%/năm, gấp từ 9,1 lần đến 18,3 lần so với mức lãi suất cao nhất (20%/ 01 năm) quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mục đích để thu lợi nhuận.

Hình thức cho vay “bát họ” người vay sẽ phải trả một khoản tiền gốc và tiền lãi cố định hằng ngày trong vòng 40 ngày. Khi chưa hết thời hạn 40 ngày, nếu người vay muốn vay tiếp thì phải tất toán toàn bộ khoản vay và trả tiền lãi đúng như 40 ngày đã thỏa thuận. Việc thu lãi hằng ngày do T1 trực tiếp thu của người vay hoặc người vay chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng. Quá trình điều tra xác định Đồng Quốc tùng cho những người sau vay, cụ thể:

  1. Anh Nguyễn Ngọc H, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 11 lần:
  2. Lần 1: Ngày 23/12/2021, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 03/02/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Ngày 23/01/2022, H đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 2: Ngày 23/01/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 03/3/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 3: Ngày 20/3/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 30/4/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Ngày 05/4/2022, H đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 4: Ngày 05/4/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 15/5/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 5: Ngày 17/5/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 27/6/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 6: Ngày 07/7/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 17/8/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 7: Ngày 30/9/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 10/11/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 8: Ngày 16/11/2022, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 26/12/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 9: Ngày 02/01/2023, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 12/02/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 10: Ngày 17/02/2023, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 27/3/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 11: Ngày 03/9/2023, T1 cho anh H vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh H trả tiền cho T1 đến ngày 13/10/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Anh Trần Trung T1, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 08 lần:
  4. Lần 1: Ngày 09/01/2022, T1 cho anh Trần Trung T1 vay 15.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 450.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 19/02/2022 với tổng số tiền là 18.000.000 đồng (tiền gốc 15.000.000 đồng, lãi 3.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 328.767 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.671.233 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 2: Ngày 16/3/2022, T1 cho anh T1 vay 15.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 450.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 26/4/2022 với tổng số tiền là 18.000.000 đồng (tiền gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 328.767 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.671.233 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 3: Ngày 12/7/2022, T1 cho anh T1 vay 15.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 450.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 22/8/2022 với tổng số tiền là 18.000.000 đồng (tiền gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 328.767 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.671.233 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 4: Ngày 09/9/2022, T1 cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 19/10/2022 với tổng số tiền là 24.000.000 đồng (tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 438.356 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.561.644 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 5: Ngày 19/11/2022, T1 cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 29/12/2022 với tổng số tiền là 24.000.000 đồng (tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 438.356 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.561.644 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 6: Ngày 21/02/2023, T1 cho anh T1 vay 15.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 450.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 30/3/2023 với tổng số tiền là 18.000.000 đồng (tiền gốc 15.000.000 đồng, tiền lãi 3.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 328.767 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.671.233 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 21/3/2023, anh T1 tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 7: Ngày 21/3/2023, T1 cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 30/4/2023 với tổng số tiền là 24.000.000 đồng (tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 438.356 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.561.644 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 8: Ngày 20/5/2023, T1 cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 600.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T1 trả tiền cho T1 đến ngày 30/6/2023 với tổng số tiền là 24.000.000 đồng (tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 438.356 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.561.644 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  5. Anh Đỗ Văn T2, trú tại thôn H, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 08 lần:
  6. Lần 1: Ngày 17/01/2022, T1 cho anh T2 vay 5.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 20 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 07/02/2022 với tổng số tiền là 6.000.000 đồng (tiền gốc 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 54.795 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 945.205 đồng, lãi suất 10.000đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 365%/năm, gấp 18,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 2: Ngày 07/02/2022, T1 cho anh T2 vay 5.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 20 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 27/02/2022 với tổng số tiền là 6.000.000 đồng (tiền gốc 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 54.795 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 945.205 đồng, lãi suất 10.000đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 365%/năm, gấp 18,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 3: Ngày 30/4/2022, T1 cho anh T2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 10/6/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 4: Ngày 28/5/2022, T1 cho anh T2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 08/7/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 06/7/2022, T2 đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 5: Ngày 06/7/2022, T1 cho anh T2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 16/8/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 10/8/2022, T2 đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 6: Ngày 10/8/2022, T1 cho anh T2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 20/9/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 7: Ngày 20/11/2022, T1 cho anh T2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 30/12/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 8: Ngày 30/12/2022, T1 cho anh T2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh T2 trả tiền cho T1 đến ngày 10/02/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  7. Anh Lê Anh P, trú tại tổ dân phố I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 13 lần:
  8. Lần 1: Ngày 02/6/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 12/7/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 13/6/2022, P tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 2: Ngày 13/6/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 23/7/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 04/7/2022, P tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 3: Ngày 04/7/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 14/8/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 04/8/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 4: Ngày 04/8/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 14/9/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức với mức 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 07/9/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 5: Ngày 07/9/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 17/10/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 09/10/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 6: Ngày 09/10/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 19/11/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 19/10/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 7: Ngày 19/10/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 29/11/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 18/11/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 8: Ngày 18/11/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 28/12/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 06/12/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 9: Ngày 06/12/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 16/01/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 22/12/2022, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận

    Lần 10: Ngày 22/12/2022, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 02/02/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 17/01/2023, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 11: Ngày 17/01/2023, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 27/02/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 26/02/2023, P đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 12: Ngày 26/02/2023, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 06/4/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 13: Ngày 11/5/2023, T1 cho anh P vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh P trả tiền cho T1 đến ngày 21/6/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức với mức 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  9. Anh Trần Giang N, trú tại tổ dân phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 10 lần:
  10. Lần 1: Ngày 01/8/2022, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 11/9/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 25/8/2023, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 2: Ngày 25/8/2022, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 05/10/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 27/9/2022, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 3: Ngày 27/9/2022, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 07/11/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 18/10/2022, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 4: Ngày 18/10/2022, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 28/11/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 08/11/2022, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 5: Ngày 08/11/2022, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 18/12/2022 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 14/12/2022, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 6: Ngày 14/12/2022, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 24/01/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi xuất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 10/01/2023, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 7: Ngày 10/01/2023, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 20/02/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 11/02/2023, N đã tất toán cho T1 toàn bộ khoản tiền vay gốc và lãi như đã thỏa thuận.

    Lần 8: Ngày 11/02/2023, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 21/3/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 9: Ngày 04/4/2023, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 14/5/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Lần 10: Ngày 14/5/2023, T1 cho anh N vay 10.000.000 đồng, thoả thuận mỗi ngày trả 300.000 đồng tiền gốc và lãi trong vòng 40 ngày. Anh N trả tiền cho T1 đến ngày 24/6/2023 với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.000.000 đồng), trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 219.178 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.780.822 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,13 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Như vậy: từ ngày 23/12/2021 đến ngày 13/10/2023, Đồng Quốc T3 sử dụng 60.000.000 đồng tiền gốc ban đầu rồi quay vòng, cho 05 người vay tiền với lãi suất cao với tổng số tiền là 550.000.000 đồng, lãi suất từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương lãi suất từ 182,5%/năm đến 365%/năm, gấp từ 9,13 lần đến 18,3 lần mức lãi suất cao nhất (20%/năm) quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, thu tổng số tiền lãi là 110.000.000 đồng, trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 11.945.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 98.055.000 đồng.

Vật chứng: Không.

Dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc H, Trần Trung T1, Đỗ Văn T2, Lê Anh P và Trần Giang N không có đề nghị về dân sự.

Quá trình điều tra yêu cầu bị cáo giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính và số tiền gốc đã thu về, bị cáo nhất trí nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên chưa thực hiện được.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTP ngày 06 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Đồng Quốc T3 về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, theo quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng Quốc T3 phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đồng Quốc T3 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập do bị cáo không có thu nhập ổn định nhưng cần buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam gữi.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3, Điều 201 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo từ 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) đến 70.000.000₫ (Bẩy mươi triệu đồng) theo quy định.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX tuyên: Truy thu của Đồng Trung T4 số tiền gốc 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) và số tiền lãi trong mức quy định (20%/năm) là 11.945.000 đồng (mười một triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

- Về trách nhiệm dân sự: Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Trung T1; Lê Anh P; Trần Giang N; Đỗ Văn T2; Nguyễn Ngọc H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới. Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
  2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  3. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
  4. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 23/12/2021 đến ngày 13/10/2023, tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Đ, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang sử dụng 60.000.000 đồng tiền gốc ban đầu rồi quay vòng, cho nhiều người vay với tổng số tiền là 550.000.000 đồng, cụ thể: cho Nguyễn Ngọc H, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T; Anh Trần Trung T1, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T; Anh Đỗ Văn T2, trú tại thôn H, xã L, thành phố T; Anh Lê Anh P, trú tại tổ dân phố I, phường Đ, thành phố T; Anh Trần Giang N, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay tiền với lãi suất từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi xuất từ 182,5%/năm đến 365%/năm, gấp từ 9,13 lần đến 18,3 lần so với mức lãi suất cao nhất (20%/01 năm) quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mục đích để thu lợi nhuận.

    T5 tổng số tiền lãi là 110.000.000 đồng, trong đó: số tiền lãi hợp pháp là 11.945.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 98.055.000 đồng (chín mươi tám triệu, không trăm năm mươi năm ngàn đồng).

    Bị cáo có nhân thân: Ngày 30/11/2020, bị Công an thành phố T xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.

  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
  6. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

  7. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  8. Bị cáo được áp dụng tiết giảm nhẹ là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại các điểm i, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

  9. Về hình phạt bổ sung:
  10. Mục đích bị cáo cho vay tiền để thu lợi nhuận cao nên để nghiêm khắc Hội đồng xét xử cần phạt tiền đối với bị cáo.

  11. Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị:
  12. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo do bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nhưng cần buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự

  13. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  14. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  15. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.
  2. - Tuyên bố bị cáo Đồng Quốc T3 phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

    - Xử phạt: Bị cáo Đồng Quốc T3 01 (một) năm 08 (tám) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời gian Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang giám sát giáo dục trong thời gian Cải tạo không giam giữ.

    Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đồng Quốc T3.

    Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)

  3. Căn cứ các Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
  4. - Truy thu của bị cáo Đồng Quốc T3 số tiền gốc 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và số tiền lãi trong mức quy định (20%/năm) là 11.945.000 đồng (mười một triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

  5. Căn cứ các Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  6. - Bị cáo Đồng Quốc T3 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    - Bị cáo Đồng Quốc T3 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKS ND thành phố;
  • - Công an thành phố;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Lan

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đinh Công Định

Nguyễn Quốc Linh

Nguyễn Thị Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger