Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-6-2024.

V/v: Tranh chấp về thay đổi

người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý;
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn S, sinh năm 1988; thường trú: Tổ E, Khu phố H, phường T, Thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Kim T, sinh năm 1990; trú tại: Số A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2023, quá trình giải quyết vụ án - nguyên đơn là ông Ngô Văn S trình bày:

Căn cứ Bản án số 59/2023/HNGĐ-ST ngày 25/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về việc ly hôn và nuôi con giữa ông Ngô Văn S và bà Phạm Thị Kim T.

Tại Quyết định của Bản án nêu trên, Toà án đã quyết định Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông S và bà T. Về con chung Toà án đã quyết định giao 02 con chung là các cháu Ngô Quốc C, sinh ngày 10/6/2020 và cháu Ngô Quốc T1, sinh ngày 18/10/2021 cho bà Phạm Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Theo Quyết định của Tòa án như trên sau khi ly hôn mà người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, song bà Phạm Thị Kim T đã nuôi con không tốt và hạn chế quyền thăm nuôi chăm sóc con chung của ông S.

Vì sự phát triển và tương lai của con. Ông S có đủ điều kiện về đất ở, nhà ở, có nơi cư trú ổn định, có thu nhập tương đối cho bản thân và hai con. Riêng bà Phạm Thị Kim T hiện nay phải tạm trú nhà cha mẹ, không có việc làm ổn định, tài chính khó khăn, việc chăm sóc hai con chung thiếu chu đáo. Vì vậy ông yêu cầu Tòa án xem xét quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cho ông S là người trực tiếp nuôi 02 (hai) con chung là các cháu Ngô Quốc C, sinh ngày 10/6/2020 và cháu Ngô Quốc T1, sinh ngày 18/10/2021.

Đến ngày 22/5/2024 tại biên bản lấy lời khai ông Ngô Văn S khai: Bà Trinh nuôi con không tốt, gầy thiếu dinh dưỡng, cơ thể các con dơ bẩn, tự chơi ngoài trời nắng, không ai quan tâm và không được đi học mẫu giáo. Bà T chỉ cho đến thăm con, không cho ông S chở đi chơi. Bà T hiện làm công nhân may, 02 cháu để ở nhà cho bà ngoại chăm sóc nhưng việc chăm sóc không đảm bảo.

Ông S hiện làm công nhân bảo trì ở Công ty Đ, mức lương 8.500.000 đồng/tháng, làm giờ hành chính và có nhà riêng. Nếu được giao con chung cho ông nuôi dưỡng ông sẽ cho con đi học mẫu giáo cách nhà 20m. Ông S xét thấy điều kiện công việc và chỗ ở của mình đảm bảo chăm sóc cho 02 con chung. Do đó, ông S khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Ông yêu cầu được nuôi cháu Ngô Quốc C, sinh ngày 10/6/2020. Tuy nhiên nếu bà T giao 02 con chung cho ông S nuôi dưỡng thì ông S đồng ý nuôi cả 02 cháu.

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết - bị đơn là bà Phạm Thị Kim T trình bày:

Bà T thống nhất việc trước đây bà T và ông S là vợ chồng nhưng đã ly hôn nhau theo Bản án số 59/2023/HNGĐ-ST ngày 25/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Tại Quyết định của Bản án nêu trên, Toà án đã quyết định Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông S và bà T. Về con chung Toà án đã quyết định giao 02 con chung là các cháu Ngô Quốc C, sinh ngày 10/6/2020 và cháu Ngô Quốc T1, sinh ngày 18/10/2021 cho bà Phạm Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về yêu cầu thay đổi quyền nuôi dưỡng con chung của ông S thì bà T không đồng ý. Bà T đề nghị Tòa án giữ nguyên theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật trước đây. Vì các lý do như sau:

Bản thân bà T xác định vẫn là người chăm sóc, nuôi dưỡng các con từ khi ly hôn đến nay.

Bà T làm công nhân Công ty M, mức lương 5.779.000 đồng/tháng, làm giờ hành chính, có những khi tăng ca đến 18 giờ, 21 giờ 30 phút hoặc 22 giờ. Khi tăng ca sẽ được thêm tiền tăng ca. Bà T và 02 con đang ở chung nhà với mẹ ruột. Khi đi làm bà T gửi 02 cháu cho bà Phạm Thị B là mẹ ruột và bà Phạm Thị Kim P là chị thứ 3 của bà T chăm sóc. Chị ba của bà T đang ở nhà chăm con nhỏ 04 tuổi nên bà T nhờ giữ giùm 02 cháu vào buổi sáng, buổi chiều và buổi tối mẹ ruột bà T giữ 02 cháu. Hàng tháng bà T đưa cho bà P số tiền 2.500.000 đồng tiền công chăm sóc 02 cháu.

Do các cháu nhỏ con chứ không phải suy dinh dưỡng. Hàng tháng bà T mua thuốc bổ, thuốc xổ giun cho các con uống. Cháu Ngô Quốc C, sinh ngày 10/6/2020 ăn uống tốt nhưng vẫn nhỏ con là do gen giống cha. Cháu Ngô Quốc T1, sinh năm 18/10/2021 ăn uống tốt có gen giống mẹ nên thân hình đầy đặn hơn. Do đó, bà T để ở nhà chăm sóc các cháu cho tốt hơn, đến tháng 7 năm 2024 sẽ cho 02 cháu đi học mẫu giáo. Trước đây, khi bà T sinh cháu T1 nên giao cháu C cho bà nội chăm sóc thì cháu C bị bà nội làm bỏng nước sôi trong lúc tắm. Cháu C bị bỏng nước sôi nhưng gia đình ông S không đưa đi bệnh viện tự dùng thuốc bôi cho cháu làm vết thương bị phồng lên và chảy nước vàng. Do đó, bà T không yên tâm giao con cho ông S cũng như gia đình ông S chăm sóc.

Tính tình ông S nóng nảy, hay xưng hô mày tao, chửi tục, thường xuyên ăn nhậu và có tính gia trưởng. Khi sinh cháu C được 04 tháng, bà T làm đơn ly hôn với ông S tại Tòa án, Tòa án hòa giải cho đoàn tụ nên bà T đã rút đơn lại. Khi sinh cháu T1 được 02 tháng thì bà T bị ông S đánh u đầu nên bà T cùng 02 con về nhà mẹ ruột ở từ tháng 3/2021 cho đến nay. Năm 2023, ông S nộp đơn ly hôn và yêu cầu nuôi 02 cháu nhưng bà T chỉ đồng ý ly hôn, không đồng ý giao 02 cháu cho ông S nuôi.

Bà T vẫn tạo điều kiện cho ông S thăm nom 02 cháu, có khi bà T chở 02 cháu lên nhà ông S chơi. Bà T không cấm cản ông S thăm nom và chở 02 cháu đi chơi. Hai cháu từ nhỏ đã sống chung và rất yêu thương nhau, nếu giao cho mỗi người nuôi 01 cháu sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các cháu. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của ông S, bà T không đồng ý và bà T đề nghị được nuôi 02 con chung.

Tại phiên toà các đương sự đều vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Quá trình điều tra, việc thu thập chứng cứ, hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và tống đạt

văn bản tố tụng được Tòa án thực hiện đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.

Kiến nghị khắc phục: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của ông S là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn là bà Phạm Thị Kim T có địa chỉ cư trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

[2] Xét nội dung tranh chấp giữa các bên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Ngô Văn S và bà Phạm Thị Kim T là vợ chồng và đã ly hôn nhau theo Bản án số 59/2023/HNGĐ-ST ngày 25/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Tại Quyết định của Bản án nêu trên, Toà án đã quyết định Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông S và bà T. Về con chung Toà án đã quyết định giao 02 con chung là các cháu Ngô Quốc C, sinh ngày 10/6/2020 và cháu Ngô Quốc T1, sinh ngày 18/10/2021 cho bà Phạm Thị Kim T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

[3] Sau khi ly hôn, bà T cùng các con là cháu C và cháu T1 vẫn chung sống cùng nhau tại nhà mẹ ruột của bà T. Khi đi làm bà T gửi 02 cháu cho bà Phạm Thị B là mẹ ruột và bà Phạm Thị Kim P là chị ruột thứ 3 của bà T chăm sóc. Hiện tại, các con chung đang chung sống ổn định cùng với bà T. Hiện tại các con điều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Dự định của bà T vào đầu năm học 2024, bà T sẽ cho các con đi học. Ông S cung cấp hình ảnh 02 con chung bị dơ bẩn, tay chân bị nhiều sẹo nên cho rằng bà T bỏ bê con, xét thấy trẻ con chơi đùa thì dơ bẩn cơ thể, có các vết sẹo có thể do côn trùng đốt hoặc các cháu bị té ngã. Tuy nhiên các cháu vẫn phát triển bình thường nên tiếp tục giao con cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như tránh việc gây xáo trộn về điều kiện sinh hoạt, học tập, sinh sống ổn định của các con chung. Do vậy việc ông S khởi kiện yêu cầu thay đổi người nuôi con là không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[6] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Văn S đối với bị đơn Phạm Thị Kim T về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

[7] Về án phí: Ông Ngô Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Các Điều 28, 35, 39, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Văn S đối với bị đơn Phạm Thị Kim T về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Văn S phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004178 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: VT, HS (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huỳnh Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger