Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 21-6-2024

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Phương Ngọc Báu
  • + Ông Hoàng Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 27/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Long Văn T1; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; Sinh ngày 28 tháng 01 năm 1986, tại xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông Long Văn C, sinh năm 1956 và bà Bế Thị Ch, sinh năm 1963; Vợ: Bùi Thị N, sinh năm 1989; Con: có người 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không;

Đặc điểm nhân thân: ngày 27/11/2006, Công an huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh nhau, quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 150 ngày 12/12/2005 của Chính phủ.

Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Bùi Thị N; giới tính: nữ; tên gọi khác: không có; Sinh ngày 20 tháng 5 năm 1989, tại xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông Bùi Văn Th, sinh năm 1959 và bà Nông Thị Ph, sinh năm 1960; Chồng: Long Văn T1, sinh năm 1986 là bị can trong vụ án; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị can bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 18/12/2023 đến ngày 22/12/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Hà Mạnh T2; giới tính: Nam; tên gọi khác: không có; Sinh ngày 19 tháng 8 năm 1988, tại xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố x, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông Hà Văn Ch, sinh năm 1963, và bà Dương Thị H, sinh năm 1963; Vợ: Hoàng Thị D, sinh năm 1987; Con: có người 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ 2021;Tiền án, tiền sự: không;Bị can bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ ngày 20/12/2023 đến ngày 27/12/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Trương Quốc K, sinh năm 1991;
  • - Nông Văn H, sinh năm 1974;
  • - Ngọc Thị K1, sinh năm 1948;
  • - Nông Xuân T2, sinh năm 1939;
  • Cùng địa chỉ: xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Lã Thị D, sinh năm 1962; Địa chỉ: xóm T1, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Hoàng Văn T3, sinh năm 1965; Địa chỉ: xóm T2, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Nông Văn P, sinh năm 1957; Địa chỉ: xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Lã Thị B, sinh năm 1990; Địa chỉ: xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Vương Thị C, sinh năm 1964; Địa chỉ: xóm L, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Lý Văn K2, sinh năm 1968; Địa chỉ: xóm L, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Hoàng Văn T4, sinh năm 1992; Địa chỉ: xóm S, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
  • - Nguyễn Văn D2, sinh năm 1980; Địa chỉ: phường Y, thành phố D, tỉnh Ninh Bình.

Tất cả những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút ngày 18/12/2023, tổ công tác Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Công an xã Tri Phương, huyện Trùng Khánh làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Bảo Biên, xã Tri Phương, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Long Văn T1, sinh năm 1986, trú tại xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng về hành vi đánh bạc. Vật chứng thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 863195048225431, số IMEI 2: 863195048225423, điện thoại đã qua sử dụng. T1khai nhận đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề trái phép qua điện thoại.

Hồi 18 giờ 05 ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét người và chỗ ở của Long Văn T1. Quá trình khám xét, Bùi Thị N, sinh năm 1989, là vợ của T1, tự giác giao nộp: 01 quyển vở ô ly, 02 tờ giấy A4 và nhiều mảnh giấy dùng để làm bảng đề và cáp đề có ghi các số lô, số đề, 545.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.

Tại Cơ quan điều tra, Long Văn T1, Bùi Thị N khai: cả hai vợ chồng T1, N cùng bàn bạc thống nhất dùng tiền chung của hai vợ chồng làm vốn để ghi số lô, số đề cho nhiều người trên địa bàn huyện T, tỉnh Cao Bằng bằng hình thức ghi trực tiếp, nhận ghi bằng hình thức nhắn tin, chụp ảnh qua ứng dụng mạng xã hội Zalo, Wechat, Facebook. T1 ghi được sẽ chuyển cho N tổng hợp. Hàng ngày, N tổng hợp cả phần T1ghi được và N ghi được thành 01 bảng đề. Sau khi chọn giữ lại những số có thể không trúng thưởng (những người đánh, ghi đề thường gọi là ôm bảng), N là người chuyển bảng đề còn lại cho Hà Mạnh T2, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng để hưởng lợi tiền phần trăm hoa hồng. Hàng ngày, N là người chịu trách nhiệm cộng trừ tiền thắng thua để trả tiền thắng lô, đề cho những người đánh trúng, trường hợp tiền ghi không đủ để trả những người thắng thì lấy tiền chung của cả hai vợ chồng ra trả cho người đánh trúng, sau đó chốt số liệu với T2. Định kỳ hàng tuần, T1 trực tiếp giao, nhận tiền với T2 tại nhà của T2. Tài khoản Zalo của T1có tên là “Hbô”, N có tên tài khoản là “HKT”, T2 có tên tài khoản là "Tèo”.

Căn cứ lời khai và các chứng cứ thu thập được, hồi 18 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Hà Mạnh T2. Kết quả khám xét, T2 tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, điện thoại có gắn thẻ sim 0985.693.370, số IMEI 1: 350141788620571, số IMEI 2: 350141788544169, điện thoại đã qua sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Mạnh T2 thừa nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức nhận các bảng số lô, số đề mà N gửi đến bằng hình thức nhắn tin qua ứng dụng Zalo. Cách tính thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào hồi 18 giờ 30 hàng ngày để trả thưởng. Thanh toán tiền thắng thua bằng hình thức trả tiền trực tiếp. Thỏa thuận tỷ lệ quy đổi 1 điểm lô có giá trị 23.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được trả thưởng 80.000 đồng/01 điểm lô; số đề với tỷ lệ trúng thưởng 1/70 tức 1.000 đồng trúng thưởng sẽ được trả thưởng 70.000 đồng.

T1và N được hưởng lợi từ việc ghi số đề là 27% tổng số tiền ghi số đề mà N chuyển bảng cho T2; Do đó, ngay từ thời điểm người đánh đề ghi đề, T1và N đã trả lại cho người đánh 10% tổng số tiền đánh đề nên N và T1 chỉ được hưởng 17%; đối với số lô, T1và N ghi cho khách 1 điểm lô tương đương 23.000 đồng thì được hưởng 1.000 đồng. T2, T1, N đều không có giấy đăng ký đại lý với Tổng đại lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Cao Bằng.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của Long Văn T1, Bùi Thị N, Hà Mạnh T2 in những hình ảnh có liên quan đến mua số lô, số đề cho T1, N, T2 xác nhận. Đồng thời cho T1, N, T2 tự xác định tổng số lô, số đề và số tiền ghi trong 03 ngày 16, 17 và ngày 18/12/2023.

Quá trình điều tra xác định được trong 03 ngày 16, 17 và 18/12/2023, T1, N đã bán số lô, số đề cho những người sau:

*Ngày 16/12/2023:

1. Trương Quốc K, sinh năm 1991, trú tại xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với T1 30 điểm lô với số tiền 690.000 đồng. Kết quả mở thưởng, K trúng thưởng 20 điểm lô với số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.290.000 đồng;

2. Hoàng Văn T4, sinh năm 1992, trú tại xóm S, xã C, huyện Trùng K, tỉnh Cao Bằng, đánh với T1 20 điểm lô với số tiền 460.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T4 trúng thưởng 20 điểm lô với số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.060.000 đồng;

3. Nguyễn Văn D2, sinh năm 1980, trú tại phường Y, thành phố D, tỉnh Ninh Bình, đánh với T1 90 điểm lô với số tiền 2.070.000 đồng; đề 80.000 đồng, tổng số tiền mua 2.150.000 đồng. Kết quả mở thưởng, D2 trúng thưởng 30 điểm lô với số tiền 2.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 4.550.000 đồng;

4. Ngọc Thị K1, sinh năm 1948, trú tại xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N 60 điểm lô với số tiền 1.380.000 đồng; đề 30.000 đồng, tổng số tiền mua 1.410.000 đồng. Kết quả mở thưởng, K1 trúng thưởng 20 điểm lô với số tiền

1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 3.010.000 đồng;

5. Nông Văn P, sinh năm 1957, trú tại xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N số đề 22.000 đồng. Kết quả mở thưởng, P không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 22.000 đồng;

6. Lã Thị B, sinh năm 1990, trú tại xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N số lô 08 điểm với số tiền 184.000 đồng, đề 50.000 đồng, tổng số tiền đánh là 234.000 đồng. Kết quả mở thưởng, B không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 234.000 đồng;

7. Hoàng Văn T3, sinh năm 1965, trú tại xóm T2, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N 20 điểm lô với số tiền 460.000 đồng; đề 809.000 đồng, tổng số tiền đánh 1.269.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T3 trúng thưởng 05 điểm lô với số tiền 400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.669.000 đồng;

8. Nông Xuân T2, sinh năm 1939, trú tại xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N số đề 191.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T3 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 191.000 đồng;

9. Vương Thị C, sinh năm 1964, trú tại xóm L, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N số đề 22.000 đồng. Kết quả mở thưởng, C không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 22.000 đồng;

Ngoài ra, bị can T1 tự đánh bạc với T2, 10 điểm lô với số tiền 230.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T1trúng 10 điểm lô với số tiền 800.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 16/12/2023 là 15.078.000 đồng.

*Ngày 17/12/2023:

1.Trương Quốc K, đánh với T1 30 điểm lô với số tiền 690.000 đồng. Kết quả mở thưởng, K trúng thưởng 20 điểm với số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.229.000 đồng;

2. Hoàng Văn T4, đánh với T1 40 điểm lô với số tiền 920.000 đồng. Kết quả mở thưởng, T4 trúng thưởng 15 điểm lô với số tiền 1.200.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 2.120.000 đồng;

3. Nguyễn Văn D2, đánh với T1 80 điểm lô với số tiền 1.840.000 đồng. Kết quả mở thưởng D không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.840.000 đồng;

4. Ngọc Thị K1, đánh với N 20 điểm lô với số tiền 460.000 đồng. Kết quả mở thưởng, K1 trúng thưởng 10 điểm lô với số tiền 800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.260.000 đồng;

5. Nông Văn P, đánh với N số đề 21.000 đồng. Kết quả mở thưởng P không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 21.000 đồng;

6. Hoàng Văn T3, đánh với N số đề 110.000 đồng. Kết quả mở thưởng T3 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 110.000 đồng;

7. Lý Văn K2, sinh năm 1968, trú tại xóm L, xã C, huyện Trùng K, tỉnh Cao Bằng, đánh với N số đề 55.000 đồng. Kết quả mở thưởng K2 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 55.000 đồng;

8. Lã Thị D, sinh năm 1962, trú tại xóm: T1, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với N số đề 330.000 đồng. Kết quả mở thưởng D2 không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 330.000 đồng;

T1, N ghi cho 01 người không biết tên và địa chỉ 20 điểm lô với số tiền 460.000 đồng; đề 417.000 đồng. Tổng số tiền 877.000 đồng. Kết quả mở thưởng, người đánh trúng thưởng 15 điểm lô với số tiền 1.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.077.000 đồng.

Bị can Long Văn T1 tự đánh bạc với T2 10 điểm lô với số tiền 230.000 đồng, đề 262.000 đồng. Tổng số tiền 362.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 17/12/2023 là 10.465.000 đồng.

*Ngày 18/12/2023

1. Hoàng Văn T4, đánh với T1 40 điểm lô với số tiền 920.000 đồng; số đề 90.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.010.000 đồng;

2. Trương Quốc K, đánh với T1 40 điểm lô với số tiền 920.000 đồng;

3. Nông Văn H, sinh năm 1974, trú tại xóm N, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng, đánh với T1 20 điểm lô với số tiền 460.000 đồng;

4. Ngọc Thị K1, đánh với N 20 điểm lô với số tiền 460.000 đồng; số đề 100.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 560.000 đồng;

5. Nông Văn P, đánh với N số đề 16.000 đồng;

6. Nông Xuân T2, đánh với N số đề 130.000 đồng;

7. Một người không biết tên đánh với N với số tiền 789.000 đồng;

Tổng số tiền đánh bạc ngày 18/12/2023 là 3.558.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền T1, N đánh bạc trong 03 ngày 16, 17 và ngày 18/12/2023 là 29.101.000 đồng.

Ngày 16/12/2023, Hà Mạnh T2 nhận bảng số lô, số đề với Bùi Thị N với số tiền 5.560.000 đồng, trúng thưởng 95 điểm lô với số tiền 7.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 13.160.000 đồng.

Ngày 17/12/2023, Hà Mạnh T2 nhận bảng số lô, số đề với Bùi Thị N với số tiền 4.585.000 đồng, trúng thưởng 60 điểm lô với số tiền 4.800.000 đồng. Tổng số

tiền đánh bạc 9.385.000 đồng.

Ngày 18/12/2023, Hà Mạnh T2 nhận bảng số lô, số đề với Bùi Thị N với số tiền 3.885.000 đồng. Tại thời điểm N chuyển bảng cho T2, thì T đã bị khống chế, ngăn chặn. Do đó không tính kết quả mở thưởng trong ngày.

Lời khai của bị can Long Văn T1, Bùi Thị N, Hà Mạnh T2 phù hợp với lời khai những người làm chứng Trương Quốc K, Hoàng Văn T4, Ngọc Thị K1, Nông Văn P, Lã Thị B, Hoàng Văn T3, Nông Xuân T2, Vương Thị C, Nông Văn P, Lý Văn K2, Lã Thị D, Zalo anh D2 công trình và các tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ.

Số tiền ghi được, N đã trả hết cho những người đánh lô, đề trúng thưởng. Đối với những người đánh lô đề với T1, tiền đánh bạc được thoả thuận sẽ trả sau, gồm: Trương Quốc K, còn nợ 1.405.000 đồng, Nông Văn H nợ 460.000 đồng, Hoàng Văn T4 nợ 580.000 đồng. Ngày 27, 28/01/2024 và ngày 02/4/2024, K, H, T4 đã tự giác giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền trên.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSTK ngày 27 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố Long Văn T1, Bùi Thị N và Hà Mạnh T2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Người chơi số lô, số đề với bị cáo T1và bị cáo N bằng hình thức mua trực tiếp hoặc liên hệ qua ứng dụng mạng xã hội Zalo, Wechat, Facebook. Sau đó hai bị cáo T1và N sẽ tổng hợp lô đề từng ngày và chuyển cho bị cáo T2 qua ứng dụng Zalo. Đối với số tiền 545.000đ thu giữ đối với bị cáo N, bị cáo N cho biết đó là tiền liên quan tới hành vi mua bán số lô, số đề.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35, 58 điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Long Văn T1, Bùi Thị N, Hà Mạnh T2.
  • Xử phạt tiền bị cáo Long Văn T1từ 25 đến 35 triệu đồng về tội “đánh bạc” để sung quỹ Nhà nước.
  • Xử phạt tiền bị cáo Bùi Thị N từ 20 đến 30 triệu đồng về tội “đánh bạc” để sung quỹ Nhà nước.
  • Xử phạt tiền bị cáo Hà Mạnh T2 từ 25 đến 35 triệu đồng về tội “đánh bạc” để sung quỹ Nhà nước.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả ba bị cáo.
  • - Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Tịch thu phát mại 03 chiếc điện thoại bao gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z5G tạm giữ đối với Bùi Thị N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO tạm giữ đối với Long Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Promax tạm giữ đối với Hà Mạnh T2.
  • Đối với số tiền 1.405.000đ của Trương Quốc K, số tiền 580.000đ của Hoàng Văn T4, số tiền 460.000đ của Nông Văn H, tự đem giao nộp với cơ quan điều tra. Đây là số tiền các đối tượng đã đánh bạc với Long Văn T1và Bùi Thị N nhưng còn nợ T1và N chưa kịp trả cho T1và N. Nên cần tịch thu để sung công quỹ nhà nước.
  • Đối với số tiền 545.000đ tạm giữ đối với bị cáo N, bị cáo khai số tiền này liên quan tới hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu để sung công quỹ nhà nước.
  • - Truy thu: Số tiền thu lợi bất chính 851.000đ đối với bị cáo T1và N để sung quỹ Nhà nước.
  • - Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, số lần, số tiền đánh bạc, biên bản khám xét khẩn cấp và tài liệu khác thu thập được phản ánh trong hồ sơ, nên có cơ sở để kết luận: Trong các ngày 16, 17, 18/12/2024, Long Văn T1và vợ là Bùi Thị N vừa làm thư ký, vừa làm chủ đề đã có hành vi ghi số lô, số đề cho nhiều người. Sau đó sẽ tổng hợp lô đề từng ngày và chuyển cho Hà Mạnh T2 là chủ lô, đề. Ngày 16/12/2023, T1, N ghi số lô, số đề cho người đánh đề, trả tiền cho người trúng đề và tự đánh đề với số tiền 15.078.000 đồng; ngày 17/12/2023, T1, N ghi số lô, số đề cho người đánh đề, trả tiền cho người trúng đề và tự đánh đề với số tiền 10.465.000 đồng; ngày 18/12/2023, T1, N ghi số lô, số đề với số tiền 3.885.000 đồng. Tổng số tiền T1và N đánh bạc trong 03 ngày là 29.101.000đ

Ngày 16/12/2023, T2 nhận bảng với Bùi Thị N và trả tiền trúng lô, đề cho

T1, N với số tiền 13.160.000 đồng; ngày 17/12/2023, T2 nhận bảng với Bùi Thị N và trả tiền trúng lô, đề cho T1, N với số tiền 9.385.000 đồng; ngày 18/12/2023, T2 nhận bảng với Bùi Thị N với số tiền ghi số lô, số đề 3.885.000 đồng. Tổng số tiền T2 đánh bạc trong 03 ngày là 26.430.000đ

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến trật tự xã hội ở địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo T1, N và T2 đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do đó hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra làm rõ được các bị cáo có ba ngày là 16, 17 và 18 tháng 12 năm 2023 đánh bạc với số tiền trên 5.000.000đ, mỗi lần đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo thấy rằng: Trong quá trình phạm tội các bị cáo đều có sự trao đổi, bàn bạc, thống nhất, nên đều là đồng phạm với tính chất giản đơn và đều là người thực hành, hành vi của người này tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi của người khác. Trong vụ án này, bị cáo T2 là người khởi xướng, nhận cáp số lô, số đề từ bị cáo T1và N và chi trả tiền thưởng cũng như thu lợi từ việc đánh bạc, nhưng trên thực tế giữa các bị cáo chưa trao trả tiền cho nhau từng ngày đánh bạc mà chỉ nhận chốt số tiền đánh bạc qua tin nhắn. Bị cáo Long Văn T1và Bùi Thị N là vợ chồng, cùng nhau ghi lô đề với những người chơi, hai bị cáo có sự bàn bạc và thống nhất trực tiếp cùng nhau ghi số lô, số đề cho người chơi sau đó tổng hợp thành một bảng đề chuyển cho T2 tổng hợp và trực tiếp trả thưởng cho người chơi; Ngoài ra các bị cáo còn trực tiếp đánh bạc bới T2 và giữ lại các con số có khả năng trúng không cao từ các bảng ghi số lô, số đề mà những người khác đánh với T1và N. Nên xét về vai trò và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau và phải chịu mức hình phạt ngang nhau.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, trước lần phạm tội này chưa có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta, Hội đồng xét xử thấy rằng không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện để các bị cáo làm ăn lương thiện và có cơ hội sửa chữa lỗi lầm. Mục đích bị cáo phạm tội cũng chỉ vì lợi nhuận nên cần phạt nặng về kinh tế, áp dụng phạt tiền là hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật mà vẫn đảm bảo được tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về vật chứng và các tài sản tạm giữ: 01 vở ô ly, 02 tờ giấy A4 và nhiều mảnh giấy vụn là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng đã lưu trong hồ sơ nên không đặt vấn đề xử lý. 03 điện thoại thu giữ đối với cả ba bị cáo T1, N, T2 qua điều tra xác nhận có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 545.000đ tạm giữ đối với bị cáo N, bị cáo khai nhận là liên quan tới hành vi phạm tội. Đối với số tiền 1.405.000đ với Trương Quốc Khánh, số tiền 580.000đ với Hoàng Văn T4, số tiền 460.000đ đối với Nông Văn H đây là số tiền các đối tượng mua số lô, số đề với T1và N mà chưa thanh toán cho T1và N. Đây là số tiền liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung công quỹ nhà nước.

[5] Về nguồn tiền thu lợi bất chính:

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được giữa các bị cáo có sự trao đổi về việc hưởng lợi, cụ thể Long Văn T1và Bùi Thị N được hưởng lợi từ việc ghi số đề là 27% tổng số tiền ghi số đề mà N chuyển bảng cho T2, ngay từ thời điểm người đánh đề ghi đề, T1và N đã trả lại cho người đánh 10% tổng số tiền đánh đề nên N và T1chỉ được hưởng 17%; Đối với số lô, T1và N ghi cho khách 1 điểm lô tương đương 23.000 đồng thì được hưởng 1.000 đồng, tuy nhiên, tại quá trình điều tra và trong phiên tòa, các bị cáo xác nhận T1, N và T2 còn thỏa thuận rằng T1và N sẽ chuyển tiền cho T2 khi số tiền được hưởng lợi lớn hơn 5.000.000đ. Vậy nên, trên thực tế giữa Long Văn T1và Bùi Thị N chưa tiến hành giao nhận tiền được hưởng lợi của những ngày 16, 17, 18/12/2023 cho Hà Mạnh T2. Bị cáo T2 chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử không truy thu tiền được hưởng lợi từ hành vi vi phạm pháp luật với Hà Mạnh T2 là có căn cứ.

-Với vai trò là thư ký ghi số lô, T1và N đã được hưởng lợi từ việc đánh bạc trái pháp luật như sau: Ngày 16/12/2023, bị cáo T1và N thu được tiền đánh là 1.908.000đ, phải trả thưởng 2.490.000đ, không có thu lợi bất chính trong ngày này mà T1và N bị bỏ tiền ra để trả thưởng cho người chơi là 582.000đ; Ngày

17/12/2023, thu được tiền đánh là 2.718.000đ, trả thưởng 1.853.000đ, tiền thu lợi bất chính trong ngày này là 865.000đ; Ngày 18/12/2023, do chưa trả thưởng cho những người ghi đề, số tiền thu lợi bất chính là 3.558.000đ. Tổng cộng số tiền thu lợi bất chính từ các ngày 16, 17 và 18/12/2023 là 3.841.000đ.

Tuy nhiên, có Trương Quốc K, Hoàng Văn T4 và Nông Văn H chưa trả cho T1và N tổng số tiền 2.445.000đ và số tiền 545.000đ tạm giữ đối với N, N khai số tiền này do hành vi đánh bạc mà có. Toàn bộ số tiền này đã được tính vào số tiền đánh và trả thưởng trong các ngày 16,17, 18/12/2023 giữa T1và N với những người đánh bạc. Nên số tiền này cần được trừ vào số tiền thu lợi bất chính để buộc T1và N để buộc T1và N phải nộp để sung vào công quỹ nhà nước 2.445.000đ + 545.000đ = 2.990.000đ, số tiền này hiện nay đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Do đó, cần truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền đối với Long Văn T1và Bùi Thị N là: 3.841.000đ - 2.990.000đ = 851.000đ.

[6]. Đối với những người có hành vi đánh bạc trái phép với hai bị cáo Long Văn T1và Bùi Thị N bao gồm Trương Quốc K, Hoàng Văn T4, Ngọc Thị K1, Nông Văn P, Lã Thị B, Hoàng Văn T3, Nông Xuân T2, Vương Thị C, Lã Thị D có hành vi đánh số lô, số đề nhưng chưa đến mức xử lý hình sự. Ngày 20/4/2024, Công an huyện Trùng Khánh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi mua số lô, số đề trái phép đối với từng cá nhân là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ mua số lô, số đề với N vào ngày 17/12/2023. Do không có thông tin, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định là đúng quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn D2, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh. Hiện D2 không có mặt tại địa phương, khi nào xác định được nơi ở sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

[7]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 điều 321; Điều 35, 58; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Long Văn T1, Bùi Thị N và Hà Mạnh T2.

1. Tuyên bố: Bị cáo Long Văn T1, Bùi Thị N và Hà Mạnh T2 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt tiền bị cáo Hà Mạnh T2 30.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo T2 đã nộp 20.000.000đ, nay còn phải thi hành số tiền 10.000.000đ.

Xử phạt tiền bị cáo Long Văn T1 30.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo T đã nộp 20.000.000đ, nay còn phải thi hành số tiền 10.000.000đ.

Xử phạt tiền bị cáo Bùi Thị N 30.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo N đã nộp 20.000.000đ, nay còn phải thi hành số tiền 10.000.000đ.

3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu phát mại 03 chiếc điện thoại bao gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z5G tạm giữ đối với Bùi Thị N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO tạm giữ đối với Long Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Promax tạm giữ đối với Hà Mạnh T2.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 545.000đ tạm giữ đối với Bùi Thị N vì liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.405.000đ tạm giữ với Trương Quốc K, số tiền 580.000đ tạm giữ với Hoàng Văn T4, số tiền 460.000đ tạm giữ đối với Nông Văn H vì liên quan đến hành vi phạm tội.

4. Truy thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 851.000đ đối với bị cáo Long Văn T1và Bùi Thị N.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Long Văn T1, Bùi Thị N và Hà Mạnh T2 mỗi người phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã C, UBND thị trấn T; (bằng TB);
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nông Quốc Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Long Văn T, Bùi Thị N và Hà Mạnh T phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger