|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 56/2024/HSST Ngày: 21/6/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Tô Thị Hồng Vân.
- Bà Trần Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐHPT-HSST ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐHPT-HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn H, sinh ngày 13/3/1993 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K và bà Tô Thị H1, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/01/2024 đến nay, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Á, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Công P, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
- Anh Trương Công K1, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
- Anh Vũ Văn B, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
- Anh Mai Ngọc T1, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
- Anh Lê Văn D, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
- Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 2001 (Vắng mặt)
- Anh Phạm Đức T3, sinh năm 2003 (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, Thái Bình.
- Anh Phạm Thế H2, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Bùi Đình S, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Vũ Ngọc T4, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện T, Thái Bình.
- Anh Đặng Văn T5, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua nắm bắt thông tin thấy nhiều người quen biết có nhu cầu vay tiền chi tiêu cá nhân nên Bùi Văn H nảy sinh ý định cho vay tiền tính lãi suất cao để thu lợi bất chính. H thống nhất mức lãi suất vay từ 3.000đồng /1 triệu/1 ngày đến 5.000 đồng/1 triệu /1 ngày, tương đương mức lãi suất từ 108% đến 180%/1 năm, gấp 5,4 lần đến 9 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, quy định tính lãi một tháng là 30 ngày (không tính tháng 28, 30 hay 31 ngày), tiền lãi người vay sẽ trả theo tháng vào ngày vay của tháng tiếp theo. Khi người vay có nhu cầu vay tiền sẽ đến gặp trực tiếp hoặc liên hệ với H qua số điện thoại 0929.812.xxx để thống nhất hình thức vay tiền và thỏa thuận lãi suất. Hằng tháng, H sẽ trực tiếp thu tiền lãi hoặc người vay chuyển tiền vào số tài khoản 1015138142, ngân hàng V chủ tài khoản BUI VAN HAU. Với phương thức thủ đoạn trên từ tháng 9/2021 đến ngày 27/12/2023, H đã cho 16 người vay tiền, cụ thể như sau:
- Cho anh Nguyễn Đức T vay tổng số tiền là 20.000.000 đồng, tổng số tiền lãi anh T phải trả theo thỏa thuận là 27.750.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 3.084.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 24.656.000 đồng, tổng số tiền lãi H đã thu là 28.479.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 04/9/2021, H cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đồng /1 triệu /1 ngày, tương đương 180% /1 năm, (cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự), tương ứng 01 tháng anh T phải trả cho H số tiền lãi là 1.500.000 đồng, H trừ luôn tiền lãi của tháng đầu tiên vào tiền gốc vay và đưa cho anh T 8.500.000 đồng. Đến ngày 04/7/2022 anh T đã trả tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 15.000.000 đồng, trong đó tiền lãi theo quy định của pháp luật là 1.667.000 đồng, thu lời bất chính là 13.323.000 đồng. Tổng số tiền lãi H đã thu của anh T là 14.990.000đồng.
- + Ngày 19/10/2021, H cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất như lần thứ nhất, H trừ tiền lãi tháng đầu vào tiền gốc và chuyển số tiền 8.000.000 đồng tiền vào tài khoản của anh T, còn lại 500.000 đồng H đưa trực tiếp cho anh T. Đến ngày 04/7/2022 anh T đã trả hết tiền gốc cho H, tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 12.750.000 đồng, trong đó tiền lãi theo quy định của pháp luật là 1.417.000 đồng, thu lời bất chính là 11.333.000 đồng. Tổng số tiền lãi H đã thu của anh T là 13.489.000đồng
- Ngày 11/01/2022, H cho anh Mai Ngọc T1 vay số tiền là 15.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 3.000đồng /1 triệu /1 ngày, tương đương 108% /1 năm (cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự), tương ứng 01 tháng anh T1 phải trả cho H số tiền lãi là 1.350.000 đồng. H trừ tiền lãi của tháng đầu tiên vào tiền gốc vay và chuyển khoản ngân hàng cho anh T1 số tiền gốc vay là 15.000.000 đồng. Đến ngày 11/10/2022, anh T1 đã trả hết cho H số tiền gốc. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 12.150.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 2.250.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính là 9.900.000 đồng. Anh T1 đã thanh toán cho H tổng cộng 09 tháng tiền lãi với số tiền là 12.150.000 đồng.
- Cho anh Lê Văn D vay tổng số tiền vay là 15.000.000 đồng, tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 12.750.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 1.417.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 11.333.000 đồng, anh D đã thanh toán cho H tổng số tiền lãi là 12.750.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 22/01/2022, H cho anh D vay số tiền 5.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đồng /1 triệu /1 ngày, tương đương 180% /1 năm, cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 01 tháng anh D phải trả cho H số tiền lãi là 750.000 đồng. Cùng ngày, H trừ tiền lãi của tháng đầu tiên và chuyển khoản ngân hàng cho anh D số tiền gốc vay là 4.250.000 đồng. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 6.750.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 750.000 đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.000.000 đồng. Ngày 22/10/2022, anh D đã trả tiền gốc vay, tổng số tiền lãi anh D đã thanh toán cho H là 6.750.000 đồng.
- + Ngày 15/02/2023, H cho anh D vay số tiền 10.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đồng/ 1 triệu/1 ngày, tương đương 180% / 1 năm, cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. H trừ tiền lãi của tháng đầu tiên và chuyển khoản ngân hàng cho anh D số tiền gốc vay là 8.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 6.000.000đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 667.000 đồng, số tiền thu lời bất chính là 5.333.000 đồng, anh D đã thanh toán cho H số tiền lãi là 6.000.000 đồng. Ngày 15/06/2023, anh D đã trả tiền gốc vay.
- Ngày 10/01/2022, H cho anh Nguyễn Văn Á vay số tiền là 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 144% / 1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 01 tháng anh Ánh phải trả cho H số tiền lãi là 600.000 đồng. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh Ánh số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 7.200.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 1.000.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính là 6.200.000 đồng, tổng số tiền lãi anh Ánh đã thanh toán cho H là 6.600.000 đồng. Ngày 10/01/2023, anh Ánh đã trả số tiền gốc.
- Ngày 01/09/2022, H cho anh anh Nguyễn Mạnh T2 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 144% / 1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 01 tháng anh T2 phải trả cho H số tiền lãi là 600.000 đồng. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh T2 số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi phải theo thỏa thuận là 9.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 1.322.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 8.220.000 đồng. Đến ngày 27/12/2003 anh T2 đã trả hết tiền gốc vay, tổng số tiền lãi anh T2 đã trả cho H là 8.400.000 đồng,
- Cho anh Trương Công K1 vay tổng số tiền là 30.000.000 đồng, tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 25.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 4.099.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính là 21.701.000 đồng, anh K1 đã thanh toán cho H tổng số tiền lãi là 18.300.000 đồng, cụ thể.
- + Ngày 15/12/2022, H cho anh K1 vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 108% /1 năm, cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh K1 số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng. Đến ngày 27/12/2023, anh K1 đã trả tiền gốc vay. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 11.160.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 2.066.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 9.094.000 đồng. Số tiền lãi anh K1 đã trả cho H là 9.000.000 đồng,
- + Ngày 24/06/2023, H cho anh K1 vay số tiền 20.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đ/1 triệu/1 ngày, tương đương 144% / 1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cùng ngày, H đưa cho anh K1 số tiền gốc vay là 20.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 27/12/2023, anh K1 đã trả hết tiền gốc vay cho H. Tổng số tiền lãi phải trả theo thỏa thuận là 14.640.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 2.033.000 đồng, tiền thu lợi bất chính là 12.607.000đồng; số tiền lãi anh K1 đã trả là 9.300.000 đồng.
- Cho anh Phạm Văn Đ1 vay tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi anh Đ1 trải trả theo thỏa thuận là 4.600.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 639.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.961.000, anh Đ1 đã trả lãi cho H số tiền là 4.200.000 đồng, cụ thể.
- + Ngày 24/11/2022, H cho anh Đ1 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đ /1 triệu/1 ngày, tương đương 144%/1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh Đ1 phải trả cho H số tiền lãi là 600.000 đồng và trừ tiền lãi của tháng đầu tiên vào tiền gốc vay. Cùng ngày, H chuyển khoản cho anh Đ1 số tiền gốc vay là 4.400.000 đồng. Đến ngày 24/02/2023, anh Đ1 đã trả tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận anh Đ1 phải trả là 1.800.000 đồng, số tiền lãi theo quy định là 250.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.550.000 đồng.
- + Ngày 07/8/2023, H cho anh Đ1 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất như lần đầu. Cùng ngày, H đưa cho anh Đ1 số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng bằng tiền mặt và không phải viết giấy vay tiền. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.800.000 đồng, trong đó lãi theo quy định là 389.000 đồng, tiền thu lời bất chính là 2.411.000 đồng. Hiện tại anh Đ1 đã trả tiền gốc vay.
- Cho anh Phạm Thế H2 vay tổng số tiền là 20.000.000 đồng, tổng số tiền lãi anh H2 phải trả theo thỏa thuận là 13.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 1.928.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 11.952.000 đồng, số tiền lãi anh H2 đã thanh toán là 13.200.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 21/12/2022, H cho anh H2 vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đ /1 triệu/1ngày, tương đương 144%/1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh H2 phải trả cho H số tiền lãi là 1.200.000 đồng và không phải viết giấy vay tiền. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh H2 số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng . Ngày 21/6/2023, anh H2 đã trả tiền gốc . Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 7.200.000 đồng, trong đó tiền lãi theo quy định là 1.000.000 đồng, số tiền lãi bất chính là 6.200.000 đồng, anh H2 đã thanh toán số tiền lãi cho H là 7.200.000 đồng.
- + Ngày 09/7/2023, anh H2 vay H vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất như lần thứ nhất. Cùng ngày H chuyển khoản ngân hàng cho anh H2 số tiền gốc vay 5.000.000 đồng. Đến ngày 10/7/2023, anh H2 tiếp tục hỏi H vay số tiền 5.000.000 đồng, vẫn thỏa thuận mức lãi suất như trên thì H chuyển khoản ngân hàng cho anh H2 số tiền gốc vay 5.000.000 đồng và thống nhất gộp 2 khoản vay trên thành 1 khoản vay chung là 10.000.000 đồng và tính tiền lãi từ ngày 10/7/2023, tương ứng 1 tháng anh H2 phải trả cho H số tiền lãi là 1.200.000 đồng và không phải viết giấy vay tiền. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 6.680.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 928.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 5.752.000 đồng. Hiện anh H2 đã trả tiền gốc vay.
- Ngày 20/01/2023, H cho anh Bùi Đình S vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 3.300đ /1 triệu/1ngày, tương đương 118,8%/1 năm, cao gấp 5,94 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh S phải trả cho H số tiền lãi là 1.000.000 đồng và không phải viết giấy vay tiền. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh S số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 11.121.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 1.872.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 9.248.000 đồng. Anh S đã trả cho H số tiền lãi là 10.000.000 đồng. Hiện anh S đã trả tiền gốc vay.
- Ngày 25/02/2023, H cho anh Nguyễn Công P vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đ/1 triệu/1 ngày, tương đương 144%/1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh P phải trả cho H số tiền lãi là 1.200.000 đồng. Cùng ngày, H đưa cho anh P số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng bằng tiền mặt và không phải viết giấy vay tiền. Ngày 25/8/2023 P đã trả số tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 7.200.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 1.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.200.000 đồng. Anh P đã trả cho H tổng số tiền lãi là 7.200.000 đồng.
- Cho anh Phạm Đức T3 vay tổng số tiền là 20.000.000 đồng, tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 5.750.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 655.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.245.000 đồng, anh T3 đã thanh toán số tiền lãi cho H là 6.000.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 28/01/2023, H cho anh T3 vay số tiền 5.000.000 đồng, 2 bên thỏa thuận mức lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 180%/ 1 năm, cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh T3 phải trả cho H số tiền lãi là 750.000 đồng và trừ tiền lãi của tháng đầu vào tiền gốc vay, không phải viết giấy vay mượn tiền. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh T3 số tiền gốc vay là 4.250.000 đồng. Đến ngày 25/02/2023, anh T3 đã trả tiền gốc vay. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 675.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 75.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 600.000 đồng.
- + Ngày 19/03/2023, H cho anh T3 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất như lần đầu. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh T3 số tiền gốc vay là 4.250.000 đồng (trừ tiền lãi tháng đầu). Đến ngày 13/06/2023, anh T3 đã trả tiền gốc vay. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.100.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 233.000 đồng, số tiền lãi bất thu lợi bất chính là 1.867.000 đồng. T3 đã thanh toán số tiền lãi cho H là 2.250.000 đồng.
- + Ngày 29/04/2023, H cho anh T3 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất như lần đầu. Cùng ngày, H đưa cho anh T3 số tiền gốc vay là 4.250.000 bằng tiền mặt (trừ lãi tháng đầu) và không phải viết giấy vay tiền.Ngày 28/7/2023 T3 đã trả tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.225.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 247.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 1.978.000 đồng. Tổng số tiền lãi anh T3 đã thanh toán cho H là 2.250.000 đồng.
- + Ngày 22/06/2023, H cho anh T3 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất như lần đầu. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh T3 số tiền gốc vay là 4.250.000 đồng (trừ lãi tháng đầu). Đến ngày 28/07/2023, anh T3 đã trả H toàn bộ số tiền gốc vay. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 900.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 100.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 800.000 đồng. Anh T3 đã thanh toán số tiền lãi cho H là 900.000 đồng.
- Cho anh Nguyễn Thành C vay tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 20.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 2.875.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 17.825.000 đồng. Anh C đã thanh toán cho H tổng số tiền lãi là 18.000.000 đồng, cụ thể:
- + Ngày 17/01/2023, H cho anh C vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đ /1 triệu/1 ngày, tương đương 144%/1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh C phải trả cho H số tiền lãi là 1.200.000 đồng và không phải viết giấy vay tiền. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh C số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 13.600.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 1.889.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 11.711.000 đồng, anh C đã trả số tiền lãi là 12.000.000 đồng. Hiện anh C đã trả tiền gốc.
- + Ngày 31/05/2023, H cho anh C vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất như lần đầu. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh C số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 4.140.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 575.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 3.565.000 đồng, số tiền lãi anh C đã thanh toán cho H là 3.600.000 đồng. Hiện anh C đã trả tiền gốc vay.
- + Ngày 29/07/2023, H cho anh C vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất như lần đầu. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh C số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.960.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 411.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 2.549.000 đồng. Anh C đã thanh toán cho H tổng số tiền lãi là 2.400.000 đồng. Hiện anh C đã trả tiền gốc vay.
- Ngày 22/06/2023, H cho anh Vũ Ngọc T4 vay số tiền là 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 4.000đ/1 triệ /1 ngày, tương đương 144%/ 1 năm, cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh T4 phải trả cho H số tiền lãi là 600.000 đồng. Cùng ngày, H đưa cho anh T4 số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng và không phải viết giấy vay. Đến ngày 27/12/2023 anh T4 đã trả hết tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 3.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 513.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 3.187.000 đồng. Số tiền lãi anh T4 đã thanh toán cho H là 3.600.000 đồng.
- Ngày 29/09/2023, H cho anh Vũ Văn Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 3.300đ /1triệu/1 ngày, tương đương 118,8%/1 năm, cao gấp 5,94 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh Đ phải trả cho H số tiền lãi là 500.000 đồng và trừ tiền lãi của tháng đầu tiên vào tiền gốc vay, không phải viết giấy vay tiền. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh Đ số tiền gốc vay là 4.500.000 đồng. Đến ngày 27/12/2023 anh Đ đã trả hết tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 1.452.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 244.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 1.208.000 đồng. Anh Đ đã thanh toán cho H số tiền lãi là 2.000.000 đồng. Hiện anh Đ đã trả tiền gốc vay.
- Ngày 15/07/2023, H cho anh Đặng Văn T5 vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 3.300đ / 1 triệu /1 ngày, tương đương 118,8% / 1 năm, cao gấp 5,94 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh T5 phải trả cho H số tiền lãi là 500.000 đồng và không phải viết giấy vay mượn tiền. Cùng ngày, H đưa cho cho anh T5 số tiền gốc vay là 5.000.000 đồng bằng tiền mặt. Đến ngày 15/11/2023 anh T5 đã trả tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 1.980.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 333.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.647.000 đồng. Số tiền lãi anh T5 đã thanh toán cho H là 2.000.000 đồng.
- Ngày 02/10/2023, H cho anh Vũ Văn B vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận mức lãi suất là 3.300đ /1 triệu/1 ngày, tương đương 118,8% / 1 năm, cao gấp 5,94 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tương ứng 1 tháng anh B phải trả cho H số tiền lãi là 1.000.000 đồng và trừ tiền lãi của tháng đầu tiên vào tiền gốc vay, không phải viết giấy vay mượn tiền. Cùng ngày, H chuyển khoản ngân hàng cho anh B số tiền gốc vay là 9.000.000 đồng. Đến ngày 27/12/2023 anh B đã thanh toán tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 477.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 2.361.000 đồng. Số tiền lãi anh B đã trả cho H 3.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSTH ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội: “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng số 44 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng để sung quỹ nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, máy có lắp một thẻ sim trên thẻ sim có dãy số 8984048000333710550 thu của Bùi Văn H;
- Truy thu sung quỹ nhà nước các khoản tiền của Bị cáo Bùi Văn H gồm: Tổng số tiền bị cáo đã cho vay là 205.000.000 đồng và số tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự là 23.708.000 đồng.
Đối với số tiền thu lời bất chính bị cáo đã trả cho nghững người vay và số tiền gốc những người vay đã trả cho bị cáo không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: “ Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo không có thu nhập ổn định”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi cho vay với mức lãi xuất từ 3.000đồng đến 5.000đồng/01 triệu/01 ngày đối với 16 người vay gồm: Anh Nguyễn Văn Á, anh Nguyễn Công P, anh Nguyễn Đức T, anh Trương Công K1, anh Vũ Văn B, anh Vũ Văn Đ, anh Mai Ngọc T1, anh Lê Văn D, anh Phạm Đức T3, anh Phạm Văn Đ1, anh Nguyễn Thành C, anh Nguyễn Mạnh T2, anh Bùi Văn S1, anh Phạm Thế H2, anh Đặng Văn T5, và Vũ Ngọc T4 với tổng số tiền cho vay là 205.000.000 đồng, số tiền lãi bị cáo thỏa thuận với 16 người vay là 168.541.000đồng, số tiền lãi thực tế bị cáo đã thu là 155.880.000đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, biên bản kiểm tra điện thoại do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 27/12/2023 tại Công an huyện T;
- Bản sao kê tài khoản ngân hàng mang tên Bùi Văn H tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N;
- Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Á, anh Nguyễn Công P, anh Nguyễn Đức T, anh Trương Công K1, anh Vũ Văn B, anh Vũ Văn Đ, anh Mai Ngọc T1, anh Lê Văn D, anh Phạm Đức T3, anh Phạm Văn Đ1, anh Nguyễn Thành C, anh Nguyễn Mạnh T2, anh Bùi Văn S1, anh Phạm Thế H2, anh Đặng Văn T5, và Vũ Ngọc T4.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 04/09/2021 đến ngày 27/12/2023, với mục đích thu lời bất chính, Bùi Văn H đã cho 16 người vay gồm: Anh Nguyễn Văn Á, anh Nguyễn Công P, anh Nguyễn Đức T, anh Trương Công K1, anh Vũ Văn B, anh Vũ Văn Đ, anh Mai Ngọc T1, anh Lê Văn D, anh Phạm Đức T3, anh Phạm Văn Đ1, anh Nguyễn Thành C, anh Nguyễn Mạnh T2, anh Bùi Văn S1, anh Phạm Thế H2, anh Đặng Văn T5 và anh Vũ Ngọc T4 với tổng số tiền cho vay là 205.000.000 đồng, mức lãi suất từ 3.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày đến 5.000 đồng/1triệu đồng/1 ngày (gấp từ 5,4 lần đến 9 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền lãi H đã thỏa thuận với những người vay phải trả là 168.541.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 23.708.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 144.044.000 đồng, H đã nhận được tổng số tiền lãi là 155.880.000 đồng.
Tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật sân sự quy định : “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Hành vi của bị cáo Bùi Văn H đã phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:
- “ Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính và xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ.
[4]. Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhân thân, bị cáo Bùi Văn H có nhân thân tốt, trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã trả cho những người vay số tiền thu lợi bất chính, những người vay đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải xử phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Bùi Văn H được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và ấn định một thời gian thử thách nhất định cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội
[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đề nghị phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng để sung quỹ nhà nước. Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 15.000.000đồng để sung quỹ nhà nước.
[6]. Về vật chứng của vụ án và các biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã lập biên bản quản lý 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, máy có lắp một thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số 8984048000333710550 của Bùi Văn H. Chiếc điện thoại này bị cáo dùng để liên lạc với những người vay trong việc cho vay và trả tiền gốc, tiền lãi vay, xác định đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền gốc bị cáo đã cho 16 người vay là 205.000.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 23.708.000 đồng, tuy không bị tính để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng đây là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội của bị cáo. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự thì hai khoản tiền trên được tịch thu sung quỹ nhà nước. Tổng số tiền bị cáo phải nộp lại để sung quỹ nhà nước là 228.708.000 đồng ( Hai trăm hai mươi tám triệu bẩy trăm linh tám nghìn đồng).
Đối với số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã thu của anh Nguyễn Văn Á, anh Nguyễn Công P, anh Nguyễn Đức T, anh Trương Công K1, anh Vũ Văn B, anh Vũ Văn Đ, anh Mai Ngọc T1, anh Lê Văn D, anh Phạm Đức T3, anh Phạm Văn Đ1, anh Nguyễn Thành C, anh Nguyễn Mạnh T2, anh Bùi Văn S1, anh Phạm Thế H2, anh Đặng Văn T5 và anh Vũ Ngọc T4 với tổng số tiền là 155.880.000 đồng. Trong quá trình điều tra, truy tố những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đã nhận lại và không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo nên không đặt ra giải quyết.
[7]. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65, khoản 1 Điều 47, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thửa thách là 02 (Hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2024)
Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn H số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
Giao bị cáo Bùi Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới”.
- Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- - Buộc bị cáo Bùi Văn H phải nộp lại số tiền 228.708.000 đồng ( Hai trăm hai mươi tám triệu bẩy trăm linh tám nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, máy có lắp một thẻ sim trên thẻ sim có dãy số 8984048000333710550 thu của Bùi Văn H.
- (Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn H phạm tội
