Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THƯỜNG TÍN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tuyển.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Chỉnh và ông Nguyễn Hiếu Luân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hà - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Vũ Đắc T, sinh năm: 1982; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do, Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Vũ Đắc Đ và bà Bùi Thị H. Vợ: Lê Thị M, con: có 3 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại. (có mặt).
  2. Họ và tên: Trần Trọng L, sinh năm: 1977; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do, Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Trần Trọng C và bà Bùi Thị D. Vợ: Đặng Thị Thu H1; Con: có 3 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại. (có mặt).
  3. Họ và tên: Nguyễn Tiến H2, sinh năm: 1992; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do, Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Tiến H3 và bà Vũ Thị D1. Vợ: Nguyễn Thị Hải Y. Con: có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại. (có mặt).
  4. Họ và tên: Bùi Trọng P, sinh năm: 1966; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do, Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Bùi Trọng K và bà Nguyễn Thị L1. Vợ: Nguyễn Thị H4. Con: có 2 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/02/2024 đến ngày 23/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại. (có mặt).
  5. Họ và tên: Bùi Thành L2, sinh năm: 1981; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do, Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Bùi Trọng T1 và bà Nguyễn Thị L2 (sinh năm 1956). Vợ: Đinh Thị Xuân T2. Con: có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2007 con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam. (có mặt).
  6. Họ và tên: Nguyễn Tiến D2 sinh năm: 1991; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do, Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Đức K và bà Nguyễn Thị K1.Vợ: Trần Thị Phương T3. Con: có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2014 con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 19/02/2024, Trần Trọng L, Bùi Thành L2, Nguyễn Tiến D2, và Nguyễn Tiến H1 đi đến Trường mầm non cũ của thôn V gặp Vũ Đắc T là người đang trông coi, quản lý nên L, L2, D2, Nguyễn Tiến H1 hỏi T để chơi đánh bạc hình thức chơi là đánh “Tiến lên miền nam” sát phạt nhau bằng tiền, T đồng ý. Sau đó, L, L2, D2, Nguyễn Tiến H1 thống nhất hình thức chơi: sử dụng 01 bộ tú lơ khơ 52 quân, mỗi người được chia 13 lá, khi chơi các quân bài được quy định thứ tự to dần từ 3,4.....J,Q,K,A, to nhất là quân 2 và đánh bài theo quân lẻ; bộ sảnh là bộ được nối tiếp các quân liền nhau từ quận 2 đến quân A, bộ Q,K,A là lớn nhất; bộ đôi là hai quân bài có số hoặc chữ giống nhau; bộ 3 là 3 quân bài có số hoặc chữ giống nhau; tứ quý là 04 quân bài có số, chữ giống nhau nếu ai chặn được hai đen thì sẽ được 50.000 đồng, chặn hai đỏ sẽ được 100.000 đồng và người chặn được phải bỏ ra 10.000 đồng để cho anh T. Khi chơi ai đánh hết quân bài trước thì về nhất những người còn lại phải trả cho người về nhất với số tiền là 10.000 đồng/quân bài tương ứng với số quân bài còn lại. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, Bùi Trọng H5, Bùi Trọng Q, Bùi Trọng P đến. Lúc này, L2, D2 đi về trước nên Bùi Trọng P vào thay chân L2, Vũ Đắc T vào thay chân cho Nguyễn Tiến D2 tham gia chơi. Khi P, T, L, Nguyễn Tiến H1 ngồi chơi thì có Bùi Trọng H5, Bùi Trọng Q ngồi ngoài xem. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện Thường Tín phối hợp với Công an xã V1 vào bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 bộ tú lơ khơ 52 cây; thu giữ dưới chiếu bạc là: 5.585.000 đồng trong đó có: 140.000 đồng tiền hồ mọi người bỏ ra cho T nhưng T chưa cầm. Thu giữ trên người của Vũ Đắc T: 3.000.000 đồng, Bùi Trọng P: 1.135.000 đồng, Trần Trọng L: 2.170.000 đồng, Bùi Trọng Q: 9.230.000 đồng.

Ngày 23/02/2024, Bùi Thành L2, Nguyễn Tiến D2 đến Cơ quan điều tra khai nhận hành vi đánh bạc. Ngày 23/02/2024, Bùi Thành L2 tự nguyện giao nộp số tiền 500.000đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận như nội dung nêu trên và khai sử dụng số tiền để tham gia đánh bạc như sau:

  1. Vũ Đắc T khai: T được giao trông coi, quản lý trường mầm non cũ của thôn V, ngày 19/02/2024 T đã đồng ý cho mọi người đánh bạc tại trường và cùng tham gia chơi đánh bạc. Khi chơi T có: 3.700.000 đồng khi bị bắt thu giữ: 3.735.000 đồng (số tiền dưới chiếu là 375.000 đồng, số tiền trên người là 3.000.000 đồng), T thắng được 350.000 đồng. Số tiền 140.000 đồng mọi người bỏ ra, T chưa nhận được
  2. Bùi Trọng P khai : Khi chơi đánh bạc có 1.500.000 đồng lúc bị bắt, thu giữ: 1.805.000 đồng, P thắng được 305.000 đồng.
  3. Nguyễn Tiến H1 khai: Khi chơi đánh bạc có 1.750.000 đồng lúc bị bắt thu giữ 2.170.000 đồng, H1 thắng được 420.000 đồng.
  4. Trần Trọng L khai : Khi chơi đánh bạc có: 4.000.000 đồng, lúc bị bắt thu giữ: 4.040.000 đồng, L thắng được 40.000 đồng.
  5. Bùi Thành L2 khai: Khi chơi đánh bạc có: 1.000.000 đồng, lúc đi về bị thua 500.000 đồng.
  6. Nguyễn Tiến D2 khai: Khi chơi đánh bạc có 500.000 đồng, lúc đi về bị thua hết tiền.

Quá trình điều tra xác định anh Bùi Trọng H5, Bùi Trọng Q chỉ ngồi xem, không tham gia chơi đánh bạc cùng các đối tượng, Cơ quan Cơ quan CSĐT - CA huyện Thường Tín không đề cập xử lý. Đối với số tiền 9.230.000 đồng của anh Bùi Trọng Q không sử dụng vào mục đích đánh bạc, ngày 31/3/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSTC ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín đã truy tố Vũ Đắc T, Trần Trọng L, Nguyễn Tiến H1, Bùi Thành L2, Bùi Trọng P và Nguyễn Tiến D2 về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Vũ Đắc T từ 09 đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; Xử phạt bị cáo Trần Trọng L từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H1, Bùi Trọng P từ 08 đến 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho các bị cáo; Phạt bị cáo Bùi Thành L2, Nguyễn Tiến D2 từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng về tội Đánh bạc; Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với các bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.390.000đ; Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Tranh luận tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thường Tín, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
    Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, Chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận:
    Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 17 giờ ngày 19/02/2024, tại Trường mầm non cũ của thôn V, xã V1, huyện Thường Tín, TP Hà Nội, Vũ Đắc T là người đang trông coi, quản lý đã đồng ý và cùng Trần Trọng L, Bùi Thành L2, Nguyễn Tiến D2, Nguyễn Tiến H1, Bùi Trọng P đánh bạc dưới hình thức đánh “Tiến lên miền nam” sát phạt nhau bằng tiền, các bị cáo bỏ tiền hồ phế cho T 140.000 đồng. Khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện Thường Tín phối hợp với Công an xã V1 phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ tú lơ khơ 52 cây, màu xanh, số tiền trên chiếu bạc là 5.585.000 đồng. Thu giữ trên người của Vũ Đắc T là 3.000.000 đồng, Bùi Trọng P là 1.135.000 đồng, Trần Trọng L là 2.170.000 đồng. Ngày 23/02/2024, Bùi Thành L2 giao nộp số tiền 500.000đồng.
    Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố các bị cáo Vũ Đắc T, Trần Trọng L, Nguyễn Tiến H1, Bùi Thành L2, Bùi Trọng P và Nguyễn Tiến D2 về tội Đánh bạc là có căn cứ, đúng pháp luật. Tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khiến quần chúng nhân dân bất bình, đòi hỏi phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự để răn đe và làm gương cho những kẻ khác.
    Vụ án có đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn. Đánh giá vai trò của từng bị cáo như sau: Bị cáo Vũ Đắc T là người đang trông coi quản lý Trường mầm non đã đồng ý để các bị cáo khác chơi đánh bạc và cùng tham gia đánh bạc nên có vai trò cao nhất; các bị cáo Trần Trọng L, Nguyễn Tiến H1, Bùi Trọng P trực tiếp tham gia đánh bạc có vai trò tiếp theo. Các bị cáo Bùi Thành L2, Nguyễn Tiến D2 có vai trò thấp nhất.
    Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật.
    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật nên cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    Khi lượng hình, xét thấy:
    Đối với Vũ Đắc T là bị cáo có vai trò cao nhất. Tuy nhiên, T đánh bạc với số tiền nhỏ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên mặc dù việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn là cần thiết nhưng xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, thái độ thực sự ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo, thời gian tạm giữ đã đủ để cho bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình, do vậy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, có sự giám sát của chính quyền địa phương kết hợp gia đình để bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội.
    Đối với các bị cáo có vai trò thấp trong vụ án là Trần Trọng L, Nguyễn Tiến H1, Bùi Trọng P đánh bạc với số tiền không lớn, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thời gian tạm giữ đã đủ để cho các bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình nên có thể cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo. Các bị cáo không có thu nhập và công việc ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
    Đối với các bị cáo Bùi Thành L2, Nguyễn Tiến D2 đánh bạc với số tiền nhỏ, đã tự bỏ về khi các bị cáo khác tiếp tục sát phạt nhau nhưng chấp hành nghiêm chỉnh việc triệu tập của cơ quan điều tra khi vụ án bị phát hiện, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã thực sự tỏ ra ăn năn hối cải nên có thể áp dụng hình phạt phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
    Về hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng.
    Quá trình điều tra xác định anh Bùi Trọng H5, Bùi Trọng Q chỉ ngồi xem, không tham gia chơi đánh bạc cùng các đối tượng, Cơ quan CSĐT - CA huyện Thường Tín không đề cập xử lý là phù hợp. Đối với số tiền 9.230.000 đồng của anh Bùi Trọng Q không sử dụng vào mục đích đánh bạc, ngày 31/3/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q là có căn cứ.
  3. [3]. Về xử lý vật chứng: 01 bộ tú lơ khơ 52 cây, là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy. Số tiền 12.390.000 đồng thu giữ của các bị cáo dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  4. [4]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  5. [5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố:

    Các bị cáo Vũ Đắc T, Trần Trọng L, Nguyễn Tiến H1, Bùi Trọng P, Bùi Thành L2 và Nguyễn Tiến D2 phạm tội Đánh bạc.

    * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử:

    Phạt bị cáo Vũ Đắc T 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V1, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử:

    Phạt: Bị cáo Trần Trọng L 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

    Phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến H1 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

    Phạt: Bị cáo Bùi Trọng P 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V1, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

    * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử:

    Phạt bị cáo Bùi Thành L2 30 (ba mươi) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    Phạt bị cáo Nguyễn Tiến D2 30 (ba mươi) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  2. Về vật Chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.390.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 cây.

    (Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2024 và Ủy nhiệm chi ngày 14/5/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14:

    Buộc mỗi bị cáo Vũ Đắc T, Trần Trọng L, Nguyễn Tiến H1, Bùi Thành L2, Bùi Trọng P và Nguyễn Tiến D2 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thường Tín, Hà Nội;
  • - Công an huyện Thường Tín, Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Thường Tín, Hà Nội;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đắc T và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger