|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/12/2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đương;
2. Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Cường - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:124/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu S, xã S, tỉnh Phú Thọ
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 01 tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Ông Hà Văn M, sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu S, xã S, tỉnh Phú Thọ
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Đỗ Thị Hồng N, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 01 tỉnh Phú Thọ
(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; bà T, bà N đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 07/9/2025, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn trình bày: nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 18/01/1994 tại UBND xã L, huyện Y (nay là xã S), tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, đến tháng 8/2005 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, có cãi chửi nhau, hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Đến năm 2014 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2025 bị đơn trình bày: bị đơn và nguyên đơn tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 18/01/1994 tại UBND xã L, huyện Y (nay là xã S), tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xã S. Thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn do vấn đề làm ăn kinh tế, theo bị đơn chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt, không phải nguyên nhân dẫn đến ly hôn. Đến năm 2018 bị đơn xây nhà cho con cả là Hà Văn T1 thì ông bà mới sống ly thân, bị đơn ở với anh T1 còn nguyên đơn ở với anh Hà Văn A, không ai quan tâm đến ai. Nay nguyên đơn xin ly, quan điểm của bị đơn muốn vợ chồng đoàn tụ, không đồng ý ly hôn. Nếu nguyên đơn cương quyết ly hôn thì bị đơn cũng nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Hai bên trình bày vợ chồng có 02 con chung là Hà Văn A, sinh ngày 27/6/1998 và Hà Văn T1, sinh ngày 03/9/1995. Hiện nay hai con đều đã thành niên, nên hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Về quan hệ hôn nhân cho bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Hà Văn M1; Về án phí: Bà S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, lời khai của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng dân sự: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Hà Văn M là tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình”. Bị đơn là ông M có nơi cư trú tại xã S, tỉnh Phú Thọ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, được quy định tại Điều 28; Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải theo khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn, bị đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xin ly hôn bị đơn thấy rằng:
Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xác định vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, có cãi chửi nhau, hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả, còn bị đơn xác định mâu thuẫn từ năm 2010 do vấn đề làm ăn kinh tế, theo bị đơn chỉ là mâu thuẫn nho nhặt; nguyên đơn thì xác định vợ chồng sống ly thân từ năm 2014, còn bị đơn xác định vợ chồng sống ly thân từ năm 2018, như vậy hai bên thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn bất đồng và đã sống ly thân nhiều năm nay. Qua xác minh tại địa phương xã S nơi 2 người cư trú đã cho biết cuộc sống hôn nhân giữa hai người có mâu thuẫn, hiện nay không chung sống cùng nhau, đến nay nguyên đơn xin ly hôn bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn của hai người đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp với thực trạng chung sống của vợ chồng; Còn việc bị đơn xin đoàn tụ vì cho rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là nhỏ nhặt, nhưng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn của vợ chồng nên việc bị đơn xin đoàn tụ là không phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của hai người và bị đơn cũng xác định đồng ý ly hôn nếu nguyên đơn cương quyết, vì vậy cho hai người ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.
- Về con chung: Hai bên trình bày 02 con chung đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Quá trình giải quyết hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Hà Văn M.
[2]. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị S vì là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Ngọc Dũng |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 56
