Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HSST

Ngày 13 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Thanh

Ông Nguyễn Phạm Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy- Thư ký của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng: Ông Nguyễn Việt Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng;Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với:

Bị cáo Mai Nguyễn Đức H (H chủ tịch), sinh ngày 12/4/1977 tại TP.Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường X, quận T, TP.Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai X (chết) và bà Nguyễn Thị T (sống); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 17/02/2025, bị Công an quận L, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy";

Nhân thân:

  • + Ngày 13/6/1998, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng";
  • + Ngày 22/4/2002, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy";
  • + Ngày 30/7/2010, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích";
  • + Ngày 26/11/2015, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích"
  • + Ngày 12/6/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy";

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 03/12/2024; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 45 phút, ngày 03/12/2024, tại phòng số 501 nhà nghỉ V thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường H kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang Mai Nguyễn Đức H đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm 01 gói ni-lông bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong theo quy định (ký hiệu A).

Tại Kết luận giám định số 1010/KL-KTHS ngày 11/12/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong (ký hiệu A) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A là 2,804 gam.

Quá trình điều tra, từ lời khai của H và các vật chứng thu giữ xác định: Do có nhu cầu sử dụng trái phép ma túy đá nên vào tối ngày 02/12/2024, H thuê xe dịch vụ Grap (không thông qua ứng dụng) đến bến xe Trung tâm Đ tìm người bạn xã hội tên T1 (chưa rõ lai lịch) để nhờ mua ma túy. Khi đến bến xe Trung tâm Đ, H tìm gặp được T1, H nhờ T1 mua 900.000 đồng ma túy đá thì T1 đồng ý và hẹn đưa ma túy tại đoạn đường sắt trên đường N, thành phố Đà Nẵng. H đến đường sắt trên đường N chờ một lúc thì T1 đến đưa cho H 01 gói ma túy. Sau khi mua ma túy xong, H mang về cất giấu trong phòng 501 của nhà nghỉ V thuộc phường H, quận L để sử dụng dần. Đến 13 giờ 45 phút ngày 03/12/2024 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Mai Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo M Nguyễn Đức H mức án từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo M Nguyễn Đức H số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
  • * Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
  • Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy của Phòng K (kí hiệu A) được niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo M Nguyễn Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào lúc 13 giờ 45 phút ngày 03/12/2024, tại phòng số 501 nhà nghỉ V thuộc phường H, quận L, thành phố Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L bắt quả tang Mai Nguyễn Đức H có hành vi tàng trữ trái phép 2,804 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo H đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Mai Nguyễn Đức H là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức rõ tác hại của ma túy là chất gây nghiện, ma túy không chỉ gây tổn hại sức khoẻ và tinh thần của con người mà còn là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, thế nhưng bị cáo H bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép 2,804 gam ma túy loại Methamphetamine tại phòng 501 của nhà nghỉ để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện thì bị bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đi ngược lại với chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác phòng chống tội phạm về ma túy. Vì vậy, cần phải xử bị cáo H mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo H không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 1998 đến năm 2020, bị cáo H 05 lần bị Tòa án nhân thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân các quận H, quận T, quận L xử phạt tù về các tội gây rối trật tự công cộng; mua bán trái phép chất ma túy; cố ý gây thương tích và tàng trữ trái phép chất ma túy.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Mai Nguyễn Đức H, xét thấy cần thiết phải áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo H 5.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

[5] Về quan điểm luận tội cũng như đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì được niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định ký hiệu A được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ, có chữ ký Giám định viên và Điều tra viên, xét thấy đây là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Ngoài ra, trong vụ án này còn có

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Mai Nguyễn Đức H khai nhận mua của đối tượng tên T1 và người lái xe G chở H đến bến xe để mua ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên không xét.

[8] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Mai Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt: Bị cáo M Nguyễn Đức H 03(Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/12/2024.
  • * Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo Mai Nguyễn Đức H 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì được niêm phong chất ma túy còn lại sau giảm định ký hiệu A được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K Công an thành phố Đ, có chữ ký Giám định viên và Điều tra viên;

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 09/4/2025).

3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 13/4/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Liên Chiểu;
  • - Chi cục THADS Q. Liên Chiểu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Q. Liên Chiểu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Đức Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HSST ngày 13/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 56/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ban an so 56-Luu đông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger