|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 56/2025/HS-ST Ngày: 21-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Kim Cúc;
Ông Đinh Khắc Tiệp.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 06-3-2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 10-3-2025, đối với bị cáo:
Họ tên: Đỗ Duy N, sinh ngày 19-4-1986 tại: Tỉnh Nam Định; địa chỉ đăng ký thường trú: Số 4/127 đường L, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; địa chỉ cư trú: Số 4/127 đường L, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]xxx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trọng T và bà Đặng Thị Minh T1; có vợ Trần Mỹ H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Ngày 11-12-2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong án phạt tù ngày 19-01-2023), tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-12-2024, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 26-12-2024 cho đến nay Phân trại tạm giam khu vực thành phố Nam Định thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn L, anh Vũ Mạnh H (không triệu tập tới phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16-12-2024, tổ công tác Công an phường Trường Thi, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 01/123 đường B, phường T, thành phố Nam Định phát hiện Đỗ Duy N đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B3-001.xx một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của N 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (3x1,5)cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (N khai đó là ma túy đá vừa mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa N và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định để lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của N 01 xe máy biển kiểm soát 18B3-001.xx (đã cũ).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 69/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, kích thước (3x1,5)cm thu giữ của Đỗ Duy N được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng 0,356 gam (không phẩy ba năm sáu gam).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Đỗ Duy N khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, đồng thời khai nhận về nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 16-12-2024, Nam điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B3-001.xx đi từ nhà đến khu vực ngõ 123 đường B, phường T, thành phố Nam Định gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đang đứng trong ngõ 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng. N cầm gói ma túy vừa mua trong tay trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi N đi đến khu vực trước cửa số nhà 01/123 đường B, phường T, thành phố Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 66/CT-VKS-TPNĐ ngày 05-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Đỗ Duy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Đỗ Duy N tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Duy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Duy N từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 33 (ba mươi ba) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Duy N nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Duy N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Duy N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16-12-2024, Đỗ Duy N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,356 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà 01/123 đường B, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ là 0,356 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Đỗ Duy N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Duy N có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
Xét bị cáo Đỗ Duy N là đối tượng có nhân thân xấu, bị cáo đã được giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét
xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc để xử phạt bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Đỗ Duy N tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy trong phong bì niêm phong số 69/KL-KTHS đã thu giữ của bị cáo Đỗ Duy N là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
[7] Một số vấn đề khác:
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Đỗ Duy N tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B3-001.xx thu giữ của bị cáo Đỗ Duy N là tài sản của anh Phạm Viết D, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 4/83 đường C, phường B, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (bạn của bị cáo Đỗ Duy N). Do anh Phạm Viết D không biết việc bị cáo Đỗ Duy N sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại chiếc máy trên cho anh Phạm Viết D là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Duy N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Duy N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17-12-2024.
- Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 69/KL-KTHS.
- (Vật chứng có đặc điểm như Quyết định chuyển vật chứng số 44/QĐ-VKS-TPNĐ ngày 05-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định).
- Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
- Bị cáo Đỗ Duy N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
- Bị cáo Đỗ Duy N được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Thị Thu Hiền |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Duy N tàng trữ 0,356 gam Methamphetamine
