Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số:56/2025/HSST

Ngày: 21/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Ông Trần Văn Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2025/HSST ngày 20/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 22/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ung Hoàng G. Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam. Sinh năm 1994, tại Sóc Trăng.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Nơi ở hiện nay: Tổ B, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 6/12 - Nghề nghiệp: Công nhân. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông Ung Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh T - Sinh năm 1977 (còn sống). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt)

Bị hại: Anh Hà Hữu L, sinh năm 1986

Địa chỉ: Tổ C, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

U và anh Hà Hữu L (sinh năm: 1986, thường trú: tổ C, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là công nhân tại Công ty cổ phần B1, địa chỉ đường số A, Khu công nghiệp B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 19 giờ ngày 18/3/2022, trong quá trình làm việc, G làm hư hỏng hàng nên bị anh L (là nhân viên giám sát) nhắc nhở nên G và anh L đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, G bực tức và nảy sinh ý định đánh anh L để trả thù.

Khoảng 23 giờ ngày 19/03/2022, G mang theo 01 con dao rọc giấy dài khoảng 15cm, cán bằng nhựa dài 07cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 08cm, rộng 02cm, đi đến đường số C, Khu công nghiệp B, thành phố B đợi anh L đi làm về để đánh anh L. Khi thấy anh L điều khiển xe mô tô đi về, G chặn xe xông đến đánh anh L. Anh L dừng xe, tháo mũ bảo hiểm trên đầu cầm để chống trả thì bị G dùng dao đâm 01 nhát vào vùng lưng phải, 01 nhát vào khuỷu tay phải anh L gây thương tích. Sau khi gây án, G đã bỏ đi còn anh Hà Hữu L được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ.

Ngày 24/3/2022, anh L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Sau khi gây án, G nghỉ việc tại công ty và bỏ trốn. Ngày 28/11/2024, G bị Công an phường P, thành phố B bắt theo quyết định truy nã và giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Ung Hoàng G khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng vụ án: 01 con dao rọc giấy dài khoảng 15cm, cán bằng nhựa dài 07cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 08cm, rộng 02cm, sau khi gây thương tích cho anh Hà Hữu L, Ung Hoàng G đã vứt mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

* Tại kết luận pháp y về thương tích số 0438/TgT/2022 ngày 28/4/2024 của Giám định viên Trung tâm pháp y thuộc Sở Y, kết luận anh Hà Hữu L bị thương tích như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • Tổn thương màng phổi phải không để lại di chứng. Tỷ lệ: 05%.
    • Sẹo lưng phải kích thước 02x0,3cm. Tỷ lệ: 01%.
    • Sẹo khuỷu phải kích thước 02x0,3cm. Tỷ lệ: 01%.
  2. Kết luận:

    Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân Hà Hữu L -1986 tại thời điểm giám định là 07% (Bảy phần trăm).

  3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Hà Hữu L yêu cầu Ung Hoàng G bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản chi phí khác với số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Hiện G chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSBH ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Ung Hoàng G về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Ung Hoàng G từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 19/3/2022, tại đường số C, Khu công nghiệp B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Ung Hoàng G có hành vi dùng 01 con dao rọc giấy dài khoảng 15 cm, cán bằng nhựa dài 07cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 08cm, rộng 02cm gây thương tích cho anh Hà Hữu L với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07% (Bảy phần trăm). Ngày 24/3/2022, anh L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Hành vi của bị cáo Ung Hoàng G đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Ung Hoàng G về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Ung Hoàng G phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

4

Anh Hà Hữu L yêu cầu bị cáo Ung Hoàng G bồi thường chi phí điều trị, thu nhập bị mất và bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho anh L số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Buộc bị cáo cáo phải bồi thường cho anh L số tiền 30.000.000 đồng.

[7] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Tuyên bố bị cáo Ung Hoàng G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Ung Hoàng G 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2024.

    - Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Ung Hoàng G phải bồi thường cho anh Hà Hữu L số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)

  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Nhà Tạm giữ CA TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huyền

5

(xác định ngày lương tối thiểu vùng theo thời điểm xảy ra hành vi hay thời điểm hiện nay) thời điểm xảy ra hành vi là 4.420.000 đ: 170.000 đồng; thời điểm hiện nay là 4.960.000 đồng = 190.769 đồng)

6

Có áp dụng được tình tiết phạm tội lần đầu ít nghiệm trọng ko vì bị cáo có tính chất côn đồ, xác định lại ngày bị hại làm đơn khởi tố năm 2022 hay 2024

Từ 1n6th đến 2n

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

7

Điều 2. Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

a) Có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác;

b) Có thiệt hại xảy ra là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần;

Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm.

Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất đó.

c) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

2. Tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

a) Chủ sở hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, trừ trường hợp người chiếm hữu tài sản đó phải chịu trách nhiệm bồi thường theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều này.

Chủ sở hữu tài sản được xác định tại thời điểm tài sản gây thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản đang được giao dịch thì phải xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu để xác định chủ sở hữu tài sản gây thiệt hại.

Ví dụ: A bán nhà cho B, hợp đồng mua bán nhà đã được công chứng, B đã giao 80% tiền mua nhà cho A nhưng chưa nhận nhà thì nhà bị cháy, lan sang cháy nhà C gây thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật Nhà ở năm 2014 thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu là thời điểm bên mua đã thanh toán đủ tiền và nhận nhà, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp này, B chưa thanh toán đủ tiền và chưa nhận bàn giao nhà nên A chưa chuyển giao quyền sở hữu nhà cho B. Vì vậy, A vẫn là chủ sở hữu hợp pháp đối với ngôi nhà và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho C.

b) Người chiếm hữu mà không phải là chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại nếu đang nắm giữ, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp tài sản như chủ thể có quyền đối với tài sản tại thời điểm gây thiệt hại.

Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô tham gia giao thông đã gây tai nạn và gây thiệt hại thì cần phân biệt:

  • Nếu A thuê B lái xe ô tô và trả tiền công cho B, việc sử dụng xe ô tô là do A quyết định. Trong trường hợp này, A là người chiếm hữu, chi phối đối với xe ô tô. Do đó, A phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Nếu A giao xe ô tô cho B thông qua hợp đồng cho thuê tài sản hợp pháp, việc sử dụng xe ô tô là do B quyết định. Trong trường hợp này, B là người chiếm hữu, chi phối đối với xe ô tô. Do đó, B phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Người gây thiệt hại, chủ sở hữu tài sản, người chiếm hữu tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

a) Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Ví dụ 1: Nhà của A được xây dựng, đang sử dụng bình thường và không có dấu hiệu hư hỏng. Một cơn lốc xoáy bất chợt, không được dự báo trước đã cuốn mái nhà của A vào người đi đường gây thiệt hại. Trường hợp này là sự kiện bất khả kháng nên A không phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Ví dụ 2: Có thông tin bão, A đã tiến hành các biện pháp phòng chống bão theo hướng dẫn của cơ quan chức năng địa phương. Tuy nhiên, cơn bão quá mạnh đã làm tốc mái nhà của A và gây thiệt hại cho người đi đường. Trường hợp này là sự kiện bất khả kháng nên A không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

8

b) Lỗi hoàn toàn do người bị thiệt hại là toàn bộ thiệt hại xảy ra đều do lỗi của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại không có lỗi.

Ví dụ: A lái xe ô tô (thuộc sở hữu của mình) theo đúng quy định của Luật Giao thông đường bộ, C lao vào xe ô tô của A đang đi trên đường để tự tử. Trường hợp này, A không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi hoàn toàn của C.

Điều 7. Về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự

1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:

a) Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người bị thiệt hại; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở;

b) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án;

c) Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là các chi phí cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau:

a) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;

b) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.

Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.

3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau:

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi người bị thiệt hại điều trị (nếu có);

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;

c) Trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (criminal case)

  • Số bản án: 56/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger