Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 11 – 12 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Trung.

Cán bộ hưu trí.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Thảo.

Cán bộ Cơ quan Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Đồng Tháp.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 11 và 11 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bị cáo:

Võ Thị Ngọc D, sinh ngày 18/7/1978 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi thường trú: Số B lô H, khu dân cư H, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Y, sinh năm 1944 và con bà Tạ Thị T, sinh năm 1948; bị cáo có chồng (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 29/7/2024; tạm giam: Ngày 01/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Võ Thị Ngọc D:

Luật sư Đỗ Nhựt Q– Văn phòng Luật sư Lê Anh T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị hại:

Võ Quốc T2, sinh năm 1976 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Võ Quốc T2:

  1. Võ Hoàng L, sinh năm 1954 (cha bị hại) (có mặt).
  2. Địa chỉ: Số B lô H, Khu Dân cư H, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Trần Thị T3, sinh năm 1954 (mẹ bị hại) (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số A - S - LN - H – CA 92647, USA (Hoa Kỳ).

  5. Võ Ngọc Diễm Q1, sinh năm 2001 (con bị hại) (có mặt).
  6. Võ Quốc K, sinh năm 2008 (con bị hại) (có mặt).

Đại diện theo pháp luật cho Võ Quốc K là Võ Ngọc Diễm Q1.

Cùng địa chỉ: Số B lô H, Khu Dân cư H, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Hoàng L và bà Trần Thị T3 là chị Võ Ngọc Diễm Q1 (Theo Văn bản ủy quyền 06/8/2024).

Người làm chứng:

  1. Phan Thành Đ, sinh năm 2001 (có mặt).
  2. Địa chỉ: Số G ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Trương Lê Quốc B, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số A lô F, Khu Dân cư H, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Thị Ngọc D và bị hại Võ Quốc T2 là vợ chồng. Đến năm 2022 thì cả hai được Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp giải quyết công nhận thuận tình ly hôn bằng Quyết định số 58/2022/QĐ-CNTTLH ngày 08/4/2022. Sau khi ly hôn thì bị cáo D và bị hại T2 vẫn sống với nhau như vợ

chồng nhưng không đăng ký kết hôn lại.

Vào khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 28/7/2024, D cùng với T2 đi đến nhà bạn của T2 để nhậu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T2 chở D về nhà. Trên đường về, điện thoại của T2 có tin nhắn nên D nghi ngờ người yêu của T2 nhắn tin rồi cả hai cự cãi với nhau. Khi về đến nhà, D đi vào khu vực nhà vệ sinh định đánh răng. Lúc này, T2 cũng đi vào và cởi quần áo ra, T2 còn mặc quần ngắn, tay cầm điện thoại. D đòi xem tin nhắn nhưng T2 không cho. Diễm chồm tới giật điện thoại của T2 thì bị T2 dùng tay đánh trúng vùng đầu làm D té trước cửa nhà tắm, còn điện thoại của T2 thì bị văng ra, D chụp lấy điện thoại mở xem tin nhắn của người tên T4 thì bị T2 giật điện thoại lại. D tiếp tục chồm tới giật điện thoại thì bị T2 dùng tay đánh vào đầu rồi hai người giằng co với nhau, T2 chồm người tới định đánh D thì D nhìn thấy con dao thái lan để trong rổ đựng chén kế bên liền cầm lấy đâm về phía trước trúng vào ngực phải của T2, T2 kêu lên: “Vy ơi”. Sau đó, T2 lấy tay bịt vết thương lại, D thấy vậy nên lấy tay T2 xuống rồi dùng tay mình bịt vết thương và gọi: “Ông T2 ơi”, nhưng T2 không trả lời mà ngồi dựa vào vách tường nhà vệ sinh. Nghe tiếng la, em Võ Quốc K (con của T2 và D) từ trên lầu đi xuống nhìn thấy T2 nằm tựa vào vách tường, D ngồi cạnh khóc. Cùng lúc này, em Võ Ngọc Diễm Q1 (V) (con của T2 và D, chị của K) cùng với Phan Thành Đ (bạn trai của Q1) vừa đi chơi về tới nhà. Thấy T2 bị thương tích nên Đ, Q1 và D đưa T2 đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu, sau đó thì T2 tử vong. Võ Thị Ngọc D đến Công an phường B1, thành phố S đầu thú vào lúc 22 giờ 20 phút, ngày 28/7/2024.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường là căn nhà có chiều dài 13m; chiều rộng 4,5m gồm một tầng trệt, một lầu, vách xây tường, mái lợp tôn, nền lót gạch men. Tầng trệt được bố trí gồm: Phòng khách, cầu thang lên tầng một, phòng ngủ, nhà tắm và vệ sinh, khu vực bếp. Khu vực bếp dài 4,5m; rộng 3,7m, được bố trí: Kệ bếp, tủ, tủ lạnh... Trên sàn gạch, cách cửa nhà vệ sinh 0,9m phát hiện dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu); trong khu vực bếp trên vách tường có treo một ống đựng đũa, muỗng bằng kim loại, trong ống phát hiện một con dao dài 22,5cm, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND MADE IN THAILAN”, phần cán bằng gỗ màu vàng- nâu dài 11cm; bên trong phòng ngủ, trong túi xách có 01 điện thoại hiệu “I Phone” màu đỏ.

Kết quả giám định:

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 116/KLGĐTT-TTPYD9T ngày 06/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Nạn nhân Võ Quốc T2 vết

thương thấu ngực bờ sắc gọn, chiều hướng từ dưới lên trên, từ phải sang trái, thủng thùy trên phổi phải, thủng màng ngoài tim, thủng động mạch chủ; nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu tối cấp + Suy hô hấp cấp/Lao phổi.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bị cáo Võ Thị Ngọc D tại Công an phường B1, thành phố S thể hiện: Vạt áo phía trước có vết màu nâu đỏ dài 22 x 10cm.

Kết luận giám định số 1107/KL-KTHS ngày 15/8/2024, kết luận: Mẫu máu ghi thu của Võ Quốc T2 là thuộc nhóm máu O.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • - 01 điện thoại di động hiệu “I Phone” màu đỏ của bị cáo D, do không có liên quan đến vụ án nên đã trao trả lại cho bị cáo D.
  • - 01 con dao dài 22,5cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 02cm, lưỡi dao sắc bén, mũi nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND MADE IN THAILAN”, phần cán bằng gỗ màu vàng- nâu dài 11cm.
  • - 01 quần dài thun màu xanh; 01 áo hai dây có nhiều hoa văn đỏ, xanh, vàng, trắng của bị cáo D.

Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Võ Quốc T2 là em Võ Ngọc Diễm Q1 (con ruột bị hại) đã nhận từ bị cáo D 600.000.000 đồng, gồm: Tiền mai táng cho bị hại là 80.000.000 đồng; mua đồ cúng hàng ngày cho bị hại là 20.000.000 đồng; Diễm Q1 nhận 200.000.000 đồng; Võ Quốc K (em Diễm Q1) nhận 300.000.000 đồng. Các đại diện hợp pháp cho bị hại Võ Quốc T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 52/CT- VKSĐT-P2 ngày 07/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc D về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Võ Thị Ngọc D thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng miêu tả.

Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị hại Võ Quốc T2 là ông Võ Hoàng L (cha của bị hại); Võ Ngọc Diễm Q1, Võ Quốc K (đều là con của bị hại và bị cáo) thừa nhận là đã nhận từ bị cáo D số tiền 600.000.000 đồng, bao gồm: Tiền mai táng cho bị hại Võ Quốc T2 là 80.000.000 đồng; tiền mua đồ cúng hàng ngày cho

bị hại là 20.000.000 đồng; Diễm Q1 nhận 200.000.000 đồng; Võ Quốc K nhận 300.000.000 đồng. Ông L, Diễm Q1, Quốc K không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường gì thêm và cùng yêu cầu Hội đồng xét xử sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu luận tội:

Kiểm sát viên mô tả hành vi của bị cáo, bị hại và phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc D về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên nhận định hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, đã tước đoạt mạng sống của bị hại trái pháp luật và đề nghị xử lý nghiêm. Tuy nhiên, do bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và sau khi gây án đã đi đầu thú, cha ruột của bị hại và con của bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc D phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự; đề nghị áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc D mức án từ 05 năm tù đến 07 năm tù.

Kiểm sát viên nhận định về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, các đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy các tài sản không còn giá trị sử dụng và chủ sở hữu không nhận lại là: 01 con dao dài 22,5cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 02cm, lưỡi dao sắc bén, mũi nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND MADE IN THAILAN”, phần cán bằng gỗ màu vàng - nâu; 01 áo hai dây có nhiều hoa văn đỏ, xanh, vàng, trắng của bị cáo D và 01 quần dài thun màu xanh.

Tại phiên tòa, Luật sư Đỗ Nhựt Q bào chữa cho bị cáo Võ Thị Ngọc D phát biểu:

Trong vụ án này bị cáo nhận tội, nên Luật sư đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Bị cáo và bị hại từng là vợ chồng, sống với nhau có 02 con. Khi đời sống hôn nhân còn tồn tại thì bị hại cặp bồ với người phụ nữ khác làm cho mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bị hại nhiều lần đánh đập bị cáo, dẫn đến việc Toà án cho ly hôn vào năm 2022. Sau khi ly hôn, bị hại T2 và bị

cáo D vẫn sống tại căn nhà cũ cùng với các con, sinh hoạt như vợ chồng, tuy nhiên T2 vẫn chứng nào tật nấy, tiếp tục cặp bồ với người khác. Bị cáo D vì nghĩ đến hạnh phúc, tương lai của 02 con nên phải tiếp tục sống với bị hại T2 và cũng vì còn tình cảm với T2 nên D cũng có ghen tuông. Ngày xảy ra vụ án, D bị T2 nhiều lần đánh vào mặt, vào đầu dẫn đến việc D hoảng sợ chụp lấy con dao có sẵn trong nhà đưa về phía trước thì đâm trúng bị hại T2. Bị cáo phạm tội do lỗi của bị hại, bị cáo phạm tội trong lúc tinh thần hoảng sợ, không tự chủ, không kiềm chế được hành vi của mình chứ không cố ý tước đoạt mạng sống của bị hại T2. Sau khi biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật thì bị cáo đến Công an B1, thành phố S tự thú. Do đó, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử nghiên cứu, xem xét thấu đáo nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại gây ra; gia đình của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội do hành vi trái pháp luật của nạn nhân; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo còn khả năng để giáo dục, cải tạo, nên đáng được khoan hồng để sớm về với gia đình, đề nghị xét xử bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phần tranh luận, bị cáo Võ Thị Ngọc D không tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi cha mẹ chồng, xin lỗi các con của bị cáo, xin lỗi cha mẹ, anh, chị của bị cáo, xin lỗi chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, bị cáo biết lỗi, thật sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình, nuôi dạy các con, sớm hoà nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành

vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, em Võ Quốc K và người đại diện theo pháp luật của K là Võ Ngọc Diễm Q1 cùng không có yêu cầu người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho em Võ Quốc K, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Ngọc D thừa nhận do mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng, khi bị hại T2 dùng tay đánh vào vùng đầu 02 cái và định đánh cái thứ 03 thì bị cáo D lấy con dao Thái Lan để trong rổ đựng chén đâm trúng vào ngực phải của bị hại T2 dẫn đến tử vong, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là có tội, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan sai.

[3] Xét thấy, lời khai của bị cáo D tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng, đại diện bị hại, vật chứng, biên bản xem xét các dấu vết trên cơ thể, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Võ Thị Ngọc D thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tước đoạt mạng sống của bị hại trái pháp luật, bị cáo biết rõ dao là hung khí nguy hiểm khi đâm thẳng về phía trước sẽ gây sát thương cho bị hại nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cái chết của bị hại là do bị cáo gây ra mặc dù trong vụ án này bị hại cũng có lỗi là đã tấn công bị cáo trước và tấn công nhiều lần. Hành vi của bị cáo Võ Thị Ngọc D đủ cơ sở cấu thành tội “Giết người” được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Điều luật này quy định như sau:

“Điều 123. Tội giết người.

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)...

q)...

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3...”.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Thị Ngọc D là rất nguy hiểm, gây ra hậu

quả rất nghiêm trọng cho xã hội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến tính mạng của bị hại, xâm phạm đến quyền sống của con người là một trong những khách thể đặc biệt quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây hoang mang, tạo tâm lý lo sợ trong cộng đồng cư dân tại địa phương, gây mất an ninh trật tự - an toàn xã hội tại nơi xảy ra vụ án. Do đó, cần có hình phạt nghiêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy:

  • - Về nhân thân: Bị cáo Võ Thị Ngọc D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả toàn bộ cho gia đình bị hại; từ quá trình điều tra cho đến tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi gây án bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú, cha ruột của bị hại và con của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xét thấy bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng quy định tại các điểm b; s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 3 của Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo truy tố, xét xử.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Thị Ngọc D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử thấy rằng, trong các đại diện hợp pháp cho bị hại thì có các em Võ Ngọc Diễm Q1, Võ Quốc K - các em này là con của bị hại và cũng là con của bị cáo, trong đó Võ Quốc K vẫn còn đang học phổ thông. Vụ án xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa bị cáo và bị hại. Các em Diễm Q1, Quốc K đã mất cha, nay phải rời xa mẹ trong một khoảng thời gian nhất định vì bị cáo phải chịu chế tài của pháp luật, gia đình sẽ rất khó khăn. Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc để có phán quyết đạt lý, thấu tình.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, không ai còn có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tài sản không còn giá trị sử dụng và chủ sở hữu không nhận lại: 01 con dao dài 22,5cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm,

nơi rộng nhất của lưỡi dao 02cm, lưỡi dao sắc bén, mũi nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND MADE IN THAILAN”, phần cán bằng gỗ màu vàng – nâu; 01 áo hai dây có nhiều hoa văn đỏ, xanh, vàng, trắng và 01 quần dài thun màu xanh.

[7] Xét thấy phát biểu luận tội của Kiểm sát viên và phát biểu bào chữa của Luật sư tại phiên tòa là có cơ sở để chấp nhận.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc D phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc D 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 29/7/2024).

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (Một) con dao dài 22,5cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 02cm, lưỡi dao sắc bén, mũi nhọn, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI BRAND MADE IN THAILAN”, phần cán bằng gỗ màu vàng – nâu.
  • - 01 (Một) quần dài thun màu xanh.
  • - 01 (Một) áo hai dây có nhiều hoa văn đỏ - xanh – vàng - trắng.

(Tất cả vật chứng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Các vật chứng nêu trên hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (PC 01) và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Thị Ngọc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo; các đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/12/2024); những người nêu trên mà vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án theo quy định của pháp luật (bao gồm tống đạt bản án cho người được người đại diện hợp pháp của bị hại uỷ quyền tham gia tố tụng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục Thi hành án Dân sự tỉnh ĐT;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Đồng Tháp (PC 01);
  • - CQ Thi hành án hình sự CA tỉnh ĐT;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng nghiệp vụ hồ sơ CA tỉnh ĐT;
  • - Phòng GĐKT TA tỉnh ĐT;
  • - VP TAND tỉnh ĐT;
  • - Bị cáo, đại diện bị hại;
  • - Lưu: HSVA, VT (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (giết người)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Ngọc D. Bị xét xử về tội giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger