TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HS-ST
Ngày: 02-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Dương Văn Tính.
- Bà Huỳnh Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Phước L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976; Nơi sinh: Tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị T1 (chết); Đã có vợ và 04 con; Tiền án: Ngày 27/6/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm) xử phạt 07 năm 06 tháng tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 09/10/2022; Tiền sự: Chưa có; Tạm giữ: Ngày 28/6/2024; Tạm giam: Ngày 07/7/2024; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị H, sinh năm 1977. Có mặt.
Nơi cư trú: Khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng Võ Thị Yến T2 (có mặt), Phạm Quốc T3, Nguyễn Phước H1 (đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, Công an xã T phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện H và Đồn Biên phòng C tuần tra kiểm soát phòng, chống tội phạm trên địa bàn xã T. Khi đến chốt bảo vệ biên giới và phòng chống xuất nhập cảnh trái phép của Đồn Biên phòng C thuộc ấp A, xã T, huyện H thì phát hiện Võ Phước L, đang điều khiển xe mô tô biển số 66H1-476-38 có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác dừng phương tiện để kiểm tra thì phát hiện từ lai quần của ống quần bên phải L mặc trên người rơi xuống mặt đường 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng được cuộn lại, kiểm tra bên trong tờ tiền phát hiện 01 túi nilon hàn kín, bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine. Tiếp tục kiểm tra bên trong cốp xe mô tô 66H1-476.38 có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu vàng, 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 nỏ thủy tinh có dính ma túy dạng tinh thể rắn. Tổ công tác tiến hành bắt giữ Võ Phước L, thu giữ tang vật, niêm phong theo quy định và chuyển về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để xác minh xử lý theo quy định.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 27/6/2024, bị cáo dương tính chất ma túy trong cơ thể.
Tại Kết luận giám định số 862/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nilon hàn kín (ký hiệu mẫu M1) gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,297 gam loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 nỏ thủy tinh (ký hiệu mẫu M2) gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,020 gam loại Methamphetamine. Hoàn trả đối tượng gửi giám định: mẫu tinh thể rắn ký hiệu mẫu M1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,262 gam; tinh thể rắn ký hiệu mẫu M2 đã sử dụng hết cho công tác giám định. Tất cả mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trả cho Cơ quan trưng cầu khi nhận Kết luận giám định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KLHĐĐGTS-TTHS ngày 17/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H: 01 xe mô tô biển số 66H1-476.38, nhãn hiệu HONDA (xe đã qua sử dụng), trị giá 16.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-476.38, nhãn hiệu HONDA, số loại Future FI, số khung RLHJC7654PY304743, số máy JC90E0423117; 01 (một) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 1.000 đồng; 01 (một) túi nilon hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn là ma túy; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy gồm: 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu vàng, trên nắp chai gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng và 01 (một) nỏ thủy tinh, bên trong có dính tinh thể là ma túy; 01 (một) cái bật lửa, màu trắng-đen; 01 (một) cái bật lửa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, có chiều dài 10 cm; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh lá, hàn kín một đầu. Các đồ vật trên của bị cáo L dùng để sử dụng ma túy (tất cả đã qua sử dụng).
Tại Cáo trạng truy tố số 50/CT-VKSHN ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Phước L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Trả lại bà Trần Thị H: 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-476.38, nhãn hiệu HONDA, số loại Future Fi, số khung RLHJC7654PY304743, số máy JC90E0423117. Đây là xe của bà Trần Thị H (vợ bị cáo L) có được do bà H bán vàng (tài sản riêng) để mua xe, do bà H không biết chữ nên nhờ bị cáo L đứng dùm tên đăng ký xe.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với: 01 (một) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 1.000 đồng. Đây là công cụ bị cáo L dùng để cất giấu ma túy.
- Tịch thu, tiêu hủy đối với:
- + 01 (một) phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 893/1 ngày 28/6/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ, tên Trương Minh V, Nguyễn Văn Bé N, Nguyễn Văn B và Võ Phước L.
- + 01 (một) phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 893/2 ngày 28/6/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ, tên Trương Minh V, Nguyễn Văn Bé N, Nguyễn Văn B và Võ Phước L.
- + 01 (một) cái bật lửa, màu trắng-đen; 01 (một) cái bật lửa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, có chiều dài 10 cm; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh lá, hàn kín một đầu (tất cả đã qua sử dụng), đây là công cụ bị cáo L dùng để sử dụng ma túy.
Đối với người tên B1 bán ma túy cho bị cáo L; người tên H1 đã cho bị cáo Lộc bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Do không có thông tin cụ thể của B1 và H1 nên không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Thị H là chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô biển số 66H1-476.38; ý thức bà H không biết việc bị cáo L cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy (chứa ma túy), bà H không có lỗi trong việc để cho bị cáo L sử dụng xe vào việc phạm tội nên không đề cập đến trong vụ án này.
Đối với hành vi Võ Phước L tàng trữ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (01 (một) chai nhựa, 01 (một) cái nỏ và 01 (một) ống hút nhựa), không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.
Bị cáo không bào chữa, tranh luận, chỉ nói lời sau cùng: Xin lỗi gia đình, người thân, xin được giảm nhẹ hình phạt sớm về với gia đình sống có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Phước L khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, chứng minh được:
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,317 gam, nhằm mục đích để sử dụng và đã bị bắt quả tang. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm T4 tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) ...Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[4] Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Võ Phước L là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hậu quả của hành vi mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội này không chỉ làm xâm phạm đến công tác quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây khó khăn trong việc kiểm soát ma túy, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển bình thường của con người. Ma túy là chất gây nghiện, nguy hiểm, và chỉ được phép mua bán, sử dụng khi có sự cho phép của cơ quan chức năng. Việc sử dụng trái phép ma túy không chỉ gây tác hại lâu dài cho sức khỏe mà còn gây hại cho gia đình, làm mất đi đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Điều này cũng có thể dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác, như trộm cắp, mại dâm, thậm chí là giết người, cướp tài sản. Vì vậy, cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, giúp bị cáo nhận thức được lỗi lầm và trở thành công dân tốt. Đồng thời, hình phạt này cũng có tác dụng răn đe, ngăn chặn những hành vi phạm tội tương tự trong xã hội.
[6] Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy.
[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có người thân có công cách mạng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Không có, nên không xem xét.
[10] Về vật chứng: Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận.
[11] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[12] Các vấn đề khác Viện kiểm sát không đề cập là có căn cứ nên chấp nhận không xem xét trong vụ án này.
[13] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Võ Phước L phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Võ Phước L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
- Về xử lý vật chứng, căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Trả lại cho bà Trần Thị H 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-476.38, nhãn hiệu HONDA, số loại Future Fi, số khung RLHJC7654PY304743, số máy JC90E0423117.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 1.000 đồng. Đây là công cụ bị cáo L dùng để cất giấu ma túy.
- - Tịch thu, tiêu hủy đối với:
- + 01 (một) phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 893/1 ngày 28/6/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ, tên Trương Minh V, Nguyễn Văn Bé N, Nguyễn Văn B và Võ Phước L.
- + 01 (một) phong bì dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 893/2 ngày 28/6/2024, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi họ, tên Trương Minh V, Nguyễn Văn Bé N, Nguyễn Văn B và Võ Phước L.
- + 01 (một) cái bật lửa, màu trắng-đen; 01 (một) cái bật lửa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại, có chiều dài 10 cm; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu xanh lá, hàn kín một đầu, đây là công cụ bị cáo L dùng để sử dụng ma túy (tất cả đã qua sử dụng).
- Các vật chứng trên do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09 tháng 10 năm 2024.
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Phước L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02 tháng 12 năm 2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Quốc Bình |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Võ Phước L phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Võ Phước L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
