Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/11/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà:

Bà Đỗ Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vĩ.

Ông Dương Văn Xuyên.

Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 572/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXX-ST ngày 06/11/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh ngày 18/5/1989. Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn C, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
  2. Bị đơn: Ông Lưu Văn N, sinh ngày 26/3/1985. Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Hiện ông N đang thi hành án phạt tù tại Đội 21 - Phân trại 2 - Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Có mặt: Bà H.

Vắng mặt: Ông N (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 02/10/2024 và các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Lưu Văn N ngày 23/10/2018 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sinh sống cùng nhau tại thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống được khoảng 01 năm thì vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, suy nghĩ và lối sống khác nhau. Ông N thường đi làm về muộn, ít dành thời gian cho gia đình. Năm 2020, ông N sa vào chơi cờ bạc lô đề dẫn đến phải bán nhà, bán đất, cả gia đình phải đi thuê nhà trọ để ở. Tháng 9 năm 2022, ông N vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Tham ô tài sản. Hiện nay ông N đang thi hành án phạt tù tại Đội 21 - Phân trại 2 - Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.

- Về con chung: Bà và ông N sinh được 01 con chung là Lưu Nguyễn Hạnh P, sinh ngày 03/11/2019. Hiện con chung đang ở với bà. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn, ông Lưu Văn N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông nhất trí với phần trình bày của bà Nguyễn Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng ông sinh sống tại thôn H, xã M, huyện S, Hà Nội. Trong cuộc sống vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì. Ngày 30 tháng 9 năm 2022 ông bị bắt tạm giam về hành vi tham ô tài sản. Ngày 06 tháng 7 năm 2023 ông đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Tham ô tài sản. Hiện nay ông đang thi hành án phạt tù tại Đội 21 - Phân trại 2 - Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc và hai vợ chồng ly thân nhau từ đó. Nay bà H xin ly hôn, ông đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông và Bà Hồng S được 01 con chung là Lưu Nguyễn Hạnh P, sinh ngày 03/11/2019. Hiện con chung đang ở với bà H. Ly hôn, ông nhất trí để bà H trực tiếp nuôi con, đề nghị Tòa án tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con cho ông.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn ông N và yêu cầu được nuôi con chung.

Đại diện Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như của các đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc xin ly hôn ông Lưu Văn N. Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con cho ông N. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thẩm quyền: Bị đơn là ông Lưu Văn N có hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

{2} Về thủ tục tố tụng: Ông Lưu Văn N hiện đang thi hành án phạt tù tại Đội 21 - Phân trại 2 - Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc và ông N có đơn xin vắng mặt tại các giai đoạn tố tụng của Tòa án nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và dành quyền kháng cáo cho ông N là phù hợp pháp luật.

{3} Về nội dung:

{3.1} Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H kết hôn với ông Lưu Văn N ngày 23/10/2018 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng ông, bà sinh sống tại thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Trong cuộc sống vợ chồng ông, bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, suy nghĩ và lối sống khác nhau. Ngày 30 tháng 9 năm 2022 ông N bị bắt tạm giam vì vi phạm pháp luật. Ngày 06 tháng 7 năm 2023 ông N đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Tham ô tài sản. Hiện nay ông N đang thi hành án phạt tù tại Đội 21 - Phân trại 2 - Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó đến nay hai bên ly thân, không có trách nhiệm gì với nhau. Như vậy, hôn nhân của hai ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn, ông Lưu Văn N đồng ý ly hôn. Sự thuận tình ly hôn của ông, bà phù hợp pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.

{3.2} Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Lưu Văn N sinh được 01 con chung là Lưu Nguyễn Hạnh P, sinh ngày 03/11/2019. Hiện con chung đang ở với bà H. Ly hôn, bà Nguyễn Thị H và ông Lưu Văn N thỏa thuận để bà H trực tiếp nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con cho ông Lưu Văn N. Sự thỏa thuận này của các bên phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

{3.3} Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H, ông Lưu Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

{4} Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Khoản 1 Điều 28; các Điều 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc xin ly hôn ông Lưu Văn N. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lưu Văn N.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Lưu Văn N sinh được 01 con chung là Lưu Nguyễn Hạnh P, sinh ngày 03/11/2019. Giao cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi con chung Lưu Nguyễn Hạnh P, sinh ngày 03/11/2019, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Lưu Văn N cho đến khi con chung của ông, bà thành niên hoặc khi có quyết định khác của Tòa án. Ông Lưu Văn N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H và ông Lưu Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số: 0072628 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn.
  5. Án xử công khai sơ thẩm, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lưu Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND T.P Hà Nội.
  • - VKSND T.P Hà Nội.
  • - VKSND huyện Sóc Sơn.
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - UBND xã Mai Đình.
  • (Giấy CNKH số: 128 ngày 23/10/2018).
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger