TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HỎA Bản án: 56/2024/HSST Ngày 14/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Tiến Thanh
Ông Vũ Văn Doãn
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa - Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
- Đại diện viện Kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc thanh gia phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hưng – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Đình T
- sinh năm 1988, tại xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số thẻ CCCD [...]; con ông: Đào Đình T1, sinh năm: 1967; con bà: Chu Thị L, sinh năm: 1969; có hai vợ nhưng đã ly hôn và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án: Ngày 15/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 05/2024/HSST ngày 15/01/2024, thời gian thử thách là 04 năm 06 tháng.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam kể từ ngày 19/7/2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. (Có mặt)
Nguyên đơn dân sự: Hợp tác xã V
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn L1 – Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị L2, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
* Người làm chứng:
- Bà Chu Thị L, sinh năm 1969. (có mặt)
- Ông Đỗ Mạnh C, sinh năm 1975. (vắng mặt)
- Anh Vũ Văn T2, sinh năm 1987. (vắng mặt)
- Anh Ngô Mạnh T3, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Địa chỉ: Phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong việc tranh giành khách trên tuyến cố định đi thành phố V, tỉnh Nghệ An, giữa nhà xe D1 Năm có xe ô tô BKS: 18B - 013.93, có lịch trình chạy tuyến cố định xuất phát từ bến xe huyện N, tỉnh Nam Định và nhà xe N3 có xe ô tô BKS: 29B - 135.45 có lịch trình chạy tuyến cố định xuất phát từ bến xe huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/6/2024, anh Đỗ Mạnh C, sinh năm 1975, trú tại tổ C, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình, điều khiển xe ô tô BKS: 29B - 135.45 (của nhà xe N3) chở Đào Đình T và mẹ là bà Chu Thị L, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên, đi chở - đón khách từ bến xe huyện K, tỉnh Hưng Yên đi thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khi chạy xe đến Quốc lộ A, đoạn chân cầu L, thuộc địa phận huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Đào Đình T nhìn thấy xe ô tô BKS: 18B - 013.93 do anh Ngô Mạnh T3, sinh năm 1984, trú tại thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, chở bà Vũ Thị L2, sinh năm 1973, trú tại thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, là quản lý của nhà xe D2, thuộc Hợp tác xã V và anh Vũ Văn T2, sinh năm 1987, trú tại thôn S, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, là phụ xe của xe khách Danh N đã điều khiển xe ô tô vượt lên phía trước nên T đã yêu cầu lái xe anh Đỗ Mạnh C “vượt lên để hai bên nói chuyện”, anh C điều khiển xe ô tô BKS: 29B - 135.45 vượt lên phía trước, bật xi nhan phải, rà phanh đi chậm lại, khi vừa đi qua cầu L, xe ô tô do anh C điều khiển đã vượt lên trước xe ô tô BKS: 18B - 013.93 thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện H. Lúc này, anh Đỗ Mạnh C điều khiển xe vào lề phải theo chiều đi của mình, đồng thời T mở cửa, xuống xe và vẫy tay ra tín hiệu cho anh T3 dừng xe ô tô lại để nói chuyện nên anh T3 cũng dừng xe ô tô BKS: 18B - 013.93 ở phía sau xe ô tô BKS: 29B - 135.45 do anh C điều khiển. T đi về phía cửa xe lên xuống của xe ô tô BKS: 18B - 013.93 và nói “Bây giờ là mấy giờ rồi”. Thấy vậy, bà Vũ Thị L2 nói lại “Bảy rưỡi chị vào đến đây”, T nói tiếp “Chạy xe vào giờ của bố mày là không được đâu”, bà L2 nói lại “Giờ đéo nào là giờ của chú, tôi cứ đi giờ của tôi đấy, chú đừng có mà láo toét”. Sau đó, T chửi bới, thách thức thì bà L2 và anh T2 nói: “Mày thích thì lên đây” thì T bước lên xe ô tô BKS: 18B - 013.93. Thấy vậy, anh T2 nói “Mày thích gì thì mày làm đi”. Lúc này, giữa T và anh T2, bà L2 có to tiếng, chửi bới nhau trong khoảng 02 phút thì bà L đi lại can ngăn và kéo T về lại xe của mình. Đồng thời anh T3 điều khiển xe ô tô BKS: 18B - 013.93 đánh lái sang trái và vượt qua xe ô tô BKS: 29B - 135.45 đi tiếp hành trình, còn xe ô tô BKS: 29B - 135.45 tiếp tục đi theo phía sau. Đi được
khoảng 150m, tại Km 304+500, xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2) dừng lại sát lề đường bên phải theo hướng di chuyển để đón khách. Thấy vậy, T nói với anh C dừng xe ở phía sau xe ô tô BKS: 18B - 013.93 để xuống nói chuyện, do đó anh C đã điều khiển xe ô tô BKS: 29B - 135.45 (của nhà xe N3) dừng ở làn giữa (làn giáp với làn dành cho xe thô sơ và người đi bộ, hướng Bắc - N), phía sau xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2). Ngay sau khi xe dừng, T bấm mở cửa xe và tự ý rút tuýp sắt (dùng để gõ lốp) ở phía sau ghế lái, xuống xe và chạy lên phía trước xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2) to tiếng chửi bới, thách thức. Lúc này, bà L2 đứng ở cửa xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2) chỉ tay về phía T thách thức “Lên đây, lên đây”, do bực tức T đi lại rồi cầm đoạn tuýp sắt đập một cái vào cửa xe lên xuống của xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2) làm cánh cửa phía ngoài (loại cửa gấp) lên xuống có vết rạn nứt không liên tục, kích thước 70 cm x 16 cm và nói: “Địt con mẹ mày ra đây”, thấy vậy bà L đi lại can ngăn và kéo T về lại xe mình nhưng T đẩy bà L ra và tiếp tục cầm tuýp sắt đập một cái vào sàn xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2), trên xe thì bà L2 và anh T2 do bức xúc nên vẫn tiếp tục chửi bới T, T bước lên xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2), thấy vậy anh T2 cầm tua vít trên tay, mục đích để tự vệ. Sau đó, anh C đi lại can ngăn rồi bước lên xe xe ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2) và nói “Mỗi người nhịn nhau một câu”, anh T2 chỉ tay về phía T và nói “Địt mẹ mày tao báo Công an bắt mày đấy”. Sau đó, chị L và anh C kéo T về lại xe ô tô BKS: 29B - 135.45 và hai xe tiếp tục đi theo hành trình. Trên đường đi anh T2 đã gọi điện lên đường dây nóng của Công an tỉnh T để báo cáo sự việc trên. Đến sáng ngày 18/6/2024, chị Vũ Thị L2 đã đến Công an xã Đ, huyện H báo cáo vụ việc. Sau đó, Công an xã Đ đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: “Cánh cửa phía ngoài (cửa gấp) lên xuống xe ô tô BKS: 18B - 013.93 có vết rạn nứt kính không liên tục kích thước (70 x 16) cm, bị thiệt hại số tiền là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng).
Tại bản kết luận giám định 3675/KL-KTHS ngày 07/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 04 video đã thu giữ trong quá trình điều tra liên quan đến hành vi của Đào Đình T: “Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 04 (bốn) tệp video của 02 (hai) đĩa DVD-R gửi giám định”.
Quá trình điều tra xác định: Hành vi chửi bới, thách thức, sử dụng tuýp sắt đập vào cửa xe (loại cửa gấp) ô tô BKS: 18B - 013.93 (của nhà xe D2) của Đào Đình T, xảy ra tại hai địa điểm trên Quốc lộ A, trong thời gian khoảng 10 phút, là nơi nhiều phương tiện đi lại thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện H đã làm chiếc xe ô tô BKS: 18B - 013.93 bị hư hỏng một phần, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng đến việc tham gia giao thông của các phương tiện lưu thông trên Quốc lộ A, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn nên các Cơ quan đã đề nghị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án được thu giữ: Gồm 02 (hai) DVD lưu giữ 04 đoạn video có chứa nội dung của vụ án; 01 (một) tuýp sắt hình tròn loại phi 21 dài 82 cm (một đầu được quấn băng keo, bên ngoài được bọc bằng ống inox dài 58 cm) là vật chứng của vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Vũ Thị L2 được Hợp tác xã V (địa chỉ tại D T, thành phố N, tỉnh Nam Định, là chủ sở hữu của xe ô tô BKS: 18B - 013.93, nhà xe D2) ủy quyền tham gia tố tụng và yêu cầu Đào Đình T bồi thường thiệt hại của chiếc xe ô tô số tiền là 8.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS HL ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Đào Đình T, về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hậu Lộc, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ Điều 318 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Hình phạt chính:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50; Điều 38; khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Đào Đình T, mức án từ 33 đến 39 tháng tù và hình phạt 02 năm 03 tháng tù của bản án số 05/2024/HSST ngày 15/01/2024. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/7/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 03/11/2023 đến ngày 06/11/2023.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp sắt hình tròn phi 21, dài 82cm là vật chứng vụ án, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật. Tiếp tục lưu giữ 02 đĩa DVD-R màu vàng cam có chứa đựng các đoạn video được dán kín phong bì có trong hồ sơ để bảo đảm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Căn cứ Điều 48 của BLHS, Điều 585, khoản 3 Điều 589 của BLDS và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường 900.000 đồng, các thiệt hại khác không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23, Điều 24 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa gia đình bị cáo đã nộp số tiền khắc phục hậu quả 900.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí HSST tại Chi cục Thi hành án dân sự.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai phạm và mong được sửa chữa khắc phục và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt để có cơ hội cải tạo trở thành công dân lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ buộc tội: Bị cáo khai nhận, do mâu thuẫn trong việc giành khách và giờ xe chạy tuyến cố định giữa hai nhà xe D1 Năm xuất phát từ bến xe tỉnh N và nhà xe N3 xuất phát từ bến xe huyện K, tỉnh Hưng Yên. Cả hai nhà xe đều có tuyến hành trình xuất phát đi đến thành phố V, tỉnh Nghệ An và chiều ngược lại, nên vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/6/2024, trên đoạn đường Q dài khoảng 150m, Đào Đình T là phụ xe ô tô BKS: 29B - 135.45, thuộc nhà xe N3, phát hiện thấy nhà xe D Năm chạy trước nên đã hai lần T yêu cầu lái xe dừng lại để giải quyết mâu thuẫn về giờ xe chạy và đón khách dọc đường. Sau khi xuống xe bị cáo đã đi lại phía nhà xe D2 và to tiếng chửi bới, lăng mạ, thách thức với bà Vũ Thị L2 và anh Vũ Văn T2 là lái xe. Sự việc lần thứ nhất xảy ra tại đoạn đường dốc xuống chân cầu L về phía huyện H, lần thứ hai tại km304+500 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện H. Không chỉ dừng lại lời chửi bới văng tục, thách thức mà còn có hành vi dùng gậy tuýp sắt đập nhiều lần vào vị trí bậc lên xuống và cánh cửa gấp của xe ô tô BKS: 18B - 013.93 do bà L2 được giao quản lý, làm rạn nứt kính cửa lên xuống của xe, gây thiệt hại về tài sản trị giá 900.000 đồng.
[2.1]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản xác định hiện trường tại chân cầu L và tại đoạn km304+500; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản thu giữ vật chứng; kết luận giám định của các đoạn video có trong hồ sơ vụ án; lời khai của những người làm chứng, người liên quan; kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự luật định. Như vậy, đủ căn cứ để khẳng định, hành vi của bị cáo Đào Đình T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” thuộc trường hợp “có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Xét tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng và an toàn công cộng, gây tâm lý phản cảm, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông và đặc biệt là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự công cộng. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng TNHS: Ngày 15/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Trong thời gian chấp hành bản án, bị cáo phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã được gia đình nộp số tiền bồi thường, khắc phục hậu quả. Ngoài ra bị cáo còn giao nộp các tài liệu khác để xem xét giảm nhẹ TNHS, gồm các giấy tờ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có người thân trong gia đình là Liệt sỹ, có ông N1, ông N2 là người có công. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để làm căn cứ đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
[4.2] Về nhân thân: Ngày 14/6/2011, bị Công an Phường N, Quận H, TP Hà Nội, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ; ngày 21/02/2019, bị Công an huyện L, tỉnh Yên Bái, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự; ngày 11/5/2022, bị Công an huyện D, tỉnh Nghệ An, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác”.
[5]. Căn cứ tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, thấy hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh trật tự trong thời gian ngắn nhưng thể hiện tính khí hung hăng, quyết liệt. Lẽ ra bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS để xem xét giảm mức hình phạt theo Điều 54 BLHS, nhưng bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách và có nhân thân xấu, nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh để bị cáo thấy được tính răn đe của pháp luật. Ngoài hình phạt của lần phạm tội này thì bị cáo còn phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt chung của nhiều bản án theo khoản 5 Điều 65 và Điều 56 của BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.
[6]. Về bồi thường thiệt hại: Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: “Cánh cửa phía ngoài (cửa gấp) lên xuống xe ô tô BKS: 18B - 013.93 có vết rạn nứt kính không liên tục kích thước (70 x 16) cm, bị thiệt hại số tiền là 900.000 đồng (chín trăm ngàn đồng)”. Nguyên đơn dân sự là Hợp tác xã V, có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm 8.000.000 đồng, bao gồm: Thiệt hại 01 chuyến xe chạy tuyến Nam Định đi TP V, tỉnh Nghệ An để đưa xe đi thay thế, sửa chữa 5.000.000 đồng, tiền mất thu nhập thực tế hoặc bị giảm sút từ 3.000.000 đồng. Tổng cộng 8.900.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi bị cáo T dùng hung khí đập vào cửa gấp lên xuống của xe thì xe ô tô vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, không ảnh hưởng đến việc vận hành kinh doanh, nên chưa đủ căn cứ chấp nhận phát sinh thiệt hại như yêu cầu. Mặt khác, Hợp tác xã V cũng chưa có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho chi phí thay thế kính. Trên thực tế thì từ khi xảy ra vụ việc đến nay, xe ô tô vẫn hoạt động chạy tuyến cố định bình thường, nên không làm ảnh hưởng đến việc vận hành, khai thác đi, đến của phương tiện. Vì vậy, kết quả định giá là căn cứ thực tế để buộc bị cáo bồi thường thiệt hại theo Điều 584 và 589 của Bộ luật dân sự 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, số tiền mà nguyên đơn yêu cầu là vượt quá thiệt hại thực tế đối với hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của BLHS. Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp thì cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 900.000 đồng là phù hợp. Tại phiên tòa gia đình bị cáo đã giao nộp biên lai nộp khắc phục hậu quả số tiền 900.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hợp tác xã V, có quyền yêu cầu thi hành án để nhận số tiền do bị cáo bồi thường.
[7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp sắt hình tròn phi 21, dài 82cm là vật chứng vụ án, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật. Tiếp tục lưu giữ 02 đĩa DVD-R màu vàng cam có chứa đựng các đoạn video được dán kín phong bì có trong hồ sơ để bảo đảm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38, khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố:
Bị cáo Đào Đình T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
Bị cáo Đào Đình T, mức án 33 (ba mươi ba) tháng tù và hình phạt 02 năm 03 tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HSST ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/7/2024, được trừ đi thời hạn tạm giữ của lần phạm tội trước đó từ ngày 03/11/2023 đến ngày 06/11/2023.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp sắt hình tròn phi 21, dài 82cm là vật chứng vụ án, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật. Tiếp tục lưu giữ 02 đĩa DVD-R màu vàng cam có chứa đựng các đoạn video được dán kín phòng bì có trong hồ sơ vụ án để bảo đảm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 của BLHS; Điều 584 và 589 của Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo Đào Đình T phải bồi thường cho Hợp tác xã V số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Số tiền bồi thường đã được nộp tại biên lai số 0001485 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hợp tác xã V, có quyền yêu cầu thi hành án để nhận số tiền do bị cáo đã bồi thường.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, số tiền án phí được đối trừ vào biên lai nộp tiền số 0001484 ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc. (Bị cáo đã nộp án phí HSST).
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 61, 63, 65 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn dân sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tuyên án liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghi |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Đình T phạm tội Gây rối trật tự công cộng
