|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 12-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tưởng Thị Thu;
2. Ông Lý Văn Tòng.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Văn Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 29/10/2024, đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T, sinh ngày 28/11/1972, tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Tổ dân phố K, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004.
Nhân thân:
- + Năm 1991, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái tuyên phạt 03 năm 06 tháng về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, Trộm cắp tài sản của công dân;
- + Năm 1995, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái tuyên phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
2. Nguyễn Văn T2, sinh ngày 23/9/1992, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Cao K, sinh năm 1962 và Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 03/6/2024, Lê Văn T đang ở nhà thấy một người đàn ông không quen biết tên, địa chỉ đến hỏi “có bán hàng không, em lấy hàng cho bán” (ý hỏi T có lấy Heroine bán không), T trả lời “hàng trắng à”, người đàn ông trả lời “ừ, bán không mai lấy cho”, T đồng ý và nói “lấy cho tám triệu” và hẹn người đàn ông hôm sau mang Heroine đến cho T. Khoảng 19 giờ ngày 04/6/2024, T đang ở nhà thì thấy người đàn ông nêu trên đến đưa cho T 01 túi ni lông màu đen, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng là H, T cầm túi Heroine và đưa cho người đàn ông 8.000.000 đồng. Sau đó, T đem gói Heroine vào nhà chia ra thành 26 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy nhiều màu và gói bằng túi ni lông màu trắng có cân nặng tương đương nhau. Sau đó, T cất giấu 14 gói Heroine vào túi áo khoác treo trong tủ quần áo tại phòng ngủ tiếp giáp phòng khách tầng một; 12 gói Heroine Tuân cất giấu trên kệ gỗ góc bên trái phòng khách nhà ở của T mục đích để bán cho người khác.
Khoảng 18 giờ, ngày 05/6/2024, Nguyễn Văn T2 sinh năm 1992, trú tại thôn A, xã T, huyện C đi xe ô tô khách đến thành phố P, tỉnh Thái Nguyên mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khoảng 07 giờ ngày 06/6/2024, T2 đến nhà Lê Văn T (thông qua sự giới thiệu của một người không quen biết) để hỏi mua Heroine. Gặp T, T2 hỏi “bán cho em mấy cái” (ý hỏi mua Heroine), T nói “đưa tiền đây”, T2 đưa cho T 1.800.000 đồng, T cầm tiền rồi đi vào lấy trên kệ gỗ kê ở góc bên trái phòng khách lấy 04 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy nhiều màu, trong cùng là H ở dạng chất bột vón cục màu trắng đem ra đưa cho T2. Mua được H, T2 đi vào chỗ vắng người lấy 01 gói Heroine ra sử dụng hết bằng cách tiêm chích vào cơ thể, 03 gói Heroine còn lại, T2 cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi xe ô tô khách về nhà. Khi về đến khu vực chợ xã H, huyện C, T2 xuống xe đi vào chỗ vắng người tiếp tục lấy 01 gói Heroine ra sử dụng hết bằng cách tiêm chích vào cơ thể. Sau khi sử dụng Heroine xong, T2 đi về nhà, đi được khoảng 100m thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ. Nghi Thuần có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác đã yêu cầu Thuần đến Ủy ban nhân dân xã H để làm việc. Quá trình làm việc, T2 tự giác giao nộp 02 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài là lớp giấy nhiều màu, bên trong chứa chất Heroine ở dạng bột vón cục màu trắng, T2 khai là H, mua của Lê Văn T mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T2 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (lúc này là 14 giờ 30 phút cùng ngày) và thu giữ toàn bộ tang vật.
Hồi 07 giờ 30 ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn T phát hiện thu giữ: Trên kệ gỗ góc bên trái phòng khách nhà ở của T 03 gói nhỏ đều có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy nhiều màu, bên trong chứa Heroine ở dạng chất bột vón cục màu trắng; 01 lọ thủy tinh bên ngoài bọc băng dính màu đen, nắp kim loại hình tròn, bên trong chứa 05 gói nhỏ đều có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy nhiều màu, bên trong chứa Heroine ở dạng chất bột vón cục màu trắng; Trong túi áo khoác màu hồng, treo trong tủ quần áo trong phòng ngủ tiếp giáp phòng khách tầng một gồm 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có chứa 10 gói nhỏ đều có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy nhiều màu, bên trong chứa Heroine ở dạng chất bột vón cục màu trắng; Trong túi áo khoác màu xanh, treo trong tủ quần áo trong phòng ngủ tiếp giáp phòng khách tầng một gồm 04 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa Heroine ở dạng chất bột vón cục màu trắng.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Văn T2, kết quả dương tính, có chất ma túy trong cơ thể; Đối với Lê Văn T, âm tính (không có chất ma tuý trong cơ thể).
- - Tại Kết luận giám định số 799 ngày 10/6/ 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Lê Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 21,374 gam.
- - Tại Kết luận giám định số 797 ngày 10/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 1,308 gam.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKSCH, ngày 23 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa đã truy tố: Bị cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/6/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/6/2024.
- - Về hình phạt bổ sung:
Đối với bị cáo Lê Văn T: Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất vụ lợi nên đề nghị áp dụng Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký của Nguyễn Văn T2 và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn T2 thu giữ ngày 06/06/2024"; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lê Văn T và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Mẫu giám định M1 thu của Lê Văn T, sinh năm 1972; HKTT phường T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Bắt ngày 07/6/2024"; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lê Văn T và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Mẫu giám định M2 thu của Lê Văn T, SN 1972; HKTT phường T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Bắt ngày 07/6/2024"; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lê Văn T và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Mẫu giám định M3 thu của Lê Văn T, SN 1972; HKTT phường T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Bắt ngày 07/6/2024".
Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000 đồng của Lê Văn T do phạm tội mà có.- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T2, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên không đề nghị xem xét.
- - Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- - Áp dụng các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án.
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn T2 tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, không có tình tiết mới. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định. Các bị cáo nhất trí luận tội, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn T2 thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: - Khoảng 07 giờ, ngày 06/6/2024, tại tổ dân phố K, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Lê Văn T đã có hành vi bán trái phép 1,308 gam Heroine cho Nguyễn Văn T2, trú tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang được 1.800.000 đồng. Khoảng 07 giờ 30 ngày 07/6/2024, tại nhà ở của mình Lê Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép 21,374 gam Heroine nhằm mục đích để bán.
- Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 06/06/2024, tại thôn C, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Văn T2, trú tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Tàng trữ trái phép 1,308 gam Heroine, mục đích để sử dụng.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo Lê Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo T có bố đẻ là Lê Văn V được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, tạo dư luận xấu tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác.
Bị cáo T là người có nhân thân xấu, năm 1991, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái tuyên phạt 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, “Trộm cắp tài sản của công dân”. Năm 1995, bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, mà tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với bị cáo T2, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khiến tệ nạn ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến hạnh phúc của nhiều gia đình và nền kinh tế xã hội.
Do vậy, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm minh, trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo T phạm tội cố ý, với mục đích vụ lợi nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức khởi điểm theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo T2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đính sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng:
Khối lượng Heroine thu giữ của bị cáo T và T2, Nhà nước cấm lưu hành sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 1.800.000 đồng của bị cáo Lê Văn T do phạm tội mà có.
[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T2, Công an huyện C đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, nên không xem xét xử lý.
[8]. Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo T, do không xác định được họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính:
- - Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 07/6/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/6/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đối với bị cáo Lê Văn T.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký của Nguyễn Văn T2 và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Tang vật vụ Nguyễn Văn T2 thu giữ ngày 06/06/2024"; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lê Văn T và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Mẫu giám định M1 thu của Lê Văn T, sinh năm 1972; HKTT phường T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Bắt ngày 07/6/2024"; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lê Văn T và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Mẫu giám định M2 thu của Lê Văn T, SN 1972; HKTT phường T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Bắt ngày 07/6/2024"; 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Lê Văn T và 05 hình dấu của Phòng K1, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi "Mẫu giám định M3 thu của Lê Văn T, SN 1972; HKTT phường T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Bắt ngày 07/6/2024"
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa ngày 11/11/2024.
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) của bị cáo Lê Văn T, do bị cáo phạm tội mà có.
5. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Lê Văn Tuân, Nguyễn Văn Thuần
