|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HSST
Ngày: 28-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Quân
Ông Phạm Trọng Cường
Thư ký phiên tòa: ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Kim Nguyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh P; sinh ngày: 19/6/1984; nơi sinh: xã T, huyện T, tỉnh Long An; nơi thường trú: ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Long An; nơi cư trú hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nam; con của ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trương Thị Đ, sinh năm 1949; vợ: Nguyễn Thị Thanh Y, sinh năm 1984 (đã ly hôn); con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 19/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 25/6/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện T (có mặt).
Bị hại:
- + Anh Trần Công Đ1, sinh ngày: 27/8/1994; nơi cư trú: số G, đường V, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
- + Ông Dương Văn C, sinh ngày: 01/01/1961; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Bà Huỳnh Thị T1, sinh ngày: 01/01/1963; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Trương Thị Đ, sinh ngày: 01/01/1949; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- + Anh Đoàn Thế V, sinh ngày: 01/8/1995; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: ông Mai Văn V1, sinh ngày: 25/11/1967; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 30/6/2023, Nguyễn Thanh P được mẹ ruột là bà Trương Thị Đ cho thừa kế quyền sử dụng thửa đất số 937, tờ bản đồ số 5, diện tích 1948 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Ngày 09/08/2023, P được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.
Đến ngày 05/9/2023, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên P đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Đoàn Thế V, với giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 767, quyển 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2023 của Văn phòng C1 có địa chỉ tại số C, khu dân cư L, quốc lộ A, phường F, thành phố T, tỉnh Long An và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T xác nhận hoàn thành thủ tục chuyển nhượng ngày 01/11/2023.
Đến khoảng giữa tháng 03/2024, do làm ăn thua lỗ và cần tiền trả nợ nên P đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà P đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp cho anh Đoàn Thế V trước đó nhằm mục đích để tìm người khác tiếp tục sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để lừa dối làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc của người mua. Sau đó, P sử dụng diện thoại di động truy cập trang cá nhân không rõ địa chỉ trên mạng xã hội Facebook đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ, nói giọng miền B liên hệ với P qua ứng dụng Messenger thỏa thuận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho P với giá 2.500.000 đồng, P gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật của P đã được cấp trước đó (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chụp trước khi chuyển nhượng cho anh V) để người này làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng 10 ngày sau, P được nhân viên giao hàng (S) không rõ nhân thân, lai lịch giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được làm giả và trả cho nhân viên giao hàng số tiền 2.500.000 đồng. Đến ngày 10/5/2024, P đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên đến nhà ông Dương Văn C và bà Huỳnh Thị T1 để lừa dối ông C và bà T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông C và bà T1 với giá 235.000.000 đồng do thửa đất của P giáp ranh với thửa đất của ông C và bà T1. Sau đó, ông C và bà T1 liên lạc cho Trần Công Đ1 (con rể ông C và bà T1) nói với anh Đ1 là P bán đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hỏi anh Đ1 có mua không, anh Đ1 đồng ý mua và nhờ ông C và bà T1 trực tiếp đứng ra thỏa thuận làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với P, ông C và bà T1 đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đưa trước cho P số tiền đặt cọc là 25.000.000 đồng, P giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho ông C, bà T1 giữ. Đến ngày 17/5/2024, P đến nhà ông C, bà T1 lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên thống nhất thỏa thuận đặt cọc trước với số tiền 175.000.000 đồng bao gồm số tiền 25.000.000 đồng đã đặt cọc trước đó. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, anh Trần Công Đ1 đã sử dụng tài khoản số [...] của anh Đ1 mở tại ngân hàng S chi nhánh B chuyển vào tài khoản số [...] của P với số tiền 150.000.000 đồng. Đến ngày 05/6/2024, P tiếp tục gọi điện thoại yêu cầu anh Đ1 chuyển khoản thêm cho P số tiền đặt cọc là 15.000.000 đồng, anh Đ1 đồng ý và đã chuyển khoản cho P thêm 15.000.000 đồng. Sau đó, P đã sử dụng toàn bộ số tiền chiếm đoạt được là 190.000.000 đồng để trả nợ. Đến ngày 13/6/2024, ông C và bà T1 đưa cho anh Đ1 xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do P giao thì anh Đ1 nghi ngờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là giả nên đến Công an huyện T, tỉnh Long An tố giác Nguyễn Thanh P về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đến ngày 19/6/2024, Nguyễn Thanh P tự nguyện đến Công an huyện T, tỉnh Long An đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 467/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” số DL 383097 (đóng dấu TLCGĐ, ký hiệu A) là giả.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSTT, ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về bản kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại gì đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị hại là anh Trần Công Đ1 yêu cầu bị cáo bị cáo trả lại số tiền 190.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường tiền cọc do hợp đồng không thực hiện được, do quen biết nên anh Đ1 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo thống nhất với yêu cầu của anh Đ1 về trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành từ 04 năm đến 06 năm tù.
Về vật chứng: đề nghị tiếp tục lưu giữ hồ sơ chính vụ án 01 “Hợp đồng đặt cọc” gồm 02 (hai) tờ giấy A4 có chữ đánh máy vi tính mực màu đen và chữ viết tay bằng mực màu xanh, có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P phía dưới dòng chữ “Đại diện bên A", chữ ký ghi tên Trương Thị Đặng P1 dưới dòng chữ “Bên làm chứng", chữ ký ghi tên Dương Văn C phía dưới dòng chữ “Đại diện bên B” và có nội dung xác nhận, chữ ký ghi tên Mai Văn V1 phía dưới dòng chữ “Trưởng ấp"; 01 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” có in số DL383097, người sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1994, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Long An có chữ ký, dấu tên ông Huỳnh Anh T2 - Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L và hình dấu tròn, màu đỏ có chữ “Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L - Văn phòng đăng ký đất đai”, kết luận giám định xác định là giả; 01 “Giấy nhận tiền đặt cọc bán đất” ghi ngày 10/5/2024 có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P phía dưới chữ “Bên bán” và chữ ký ghi tên Dương Văn C dưới chữ “Bên mua”; đề nghị tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, số sêri: RF8N10ZEA0E, số IMEI 1: 353676111473302, số IMEI 2: 353677111473300, đã qua sử dụng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0971824349, tài sản thuộc sở hữu của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho bị hại Trần Công Đ1 số tiền 190.000.000đ (một trăm chín mươi triệu đồng) mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh Đ1 và ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo bồi thường cho anh Đ1 số tiền 30.000.000 đồng.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình, lo cho các con và khắc phục hậu quả cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại là ông Dương Văn C, bà Huỳnh Thị T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Đoàn Thế V, Trương Thị Đ và người làm chứng là ông Mai Văn V1 nhưng tất cả các đương sự, người làm chứng đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa, giấy báo phiên toà đối với các đương sự, người làm chứng nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng nêu trên.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng giữa tháng 03/2024, do làm ăn thua lỗ và cần tiền trả nợ nên Nguyễn Thanh P đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mục đích để lừa dối làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm chiếm đoạt số tiền đặt cọc của người mua. Để thực hiện hành vi trên, P đã đặt mua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả qua mạng xã hội Facebook có in họ tên của P và thông tin thửa đất nhằm lừa dối ông Dương Văn C, bà Huỳnh Thị T1 và anh Trần Công Đ1 ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, qua đó P chiếm đoạt được của anh Đ1 số tiền là 190.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách triệm hình sự. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của Nguyễn Thanh P đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn, bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu, giấy tờ, làm mất an trật tự ở địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4.2] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: bị cáo Nguyễn Thanh P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.3] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy bị cáo bị cáo tự nguyện đầu thú; bị cáo có mẹ ruột là bà Trương Thị Đặng L người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, được Đ2 tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển của phụ nữ Việt Nam”, cha ruột là ông Nguyễn Văn T là thương binh hạng 4/4, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen do đã có thành tích tốt trong hoạt động của Hội người mù nhiệm kỳ IV (2004- 2009), bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.4] Xét về nhân thân của bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt chính: Từ các căn cứ trên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt nhưng bị cáo phạm đồng thời 02 tội đều có khung hình phạt từ 02 -07 năm tù. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về căn cứ pháp lý, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc là công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” và tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Công Đ1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt là 190.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại với số tiền 30.000.000 đồng do bị cáo vi phạm hợp đồng. Bị cáo P đồng ý theo yêu cầu của bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bị hại và ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý vật chứng, cụ thể như sau:
[6.1] Đối với các tài liệu, vật chứng thu giữ được sử dụng làm tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đánh bút lục gồm: 01 “Hợp đồng đặt cọc” gồm 02 (hai) tờ giấy A4 có chữ đánh máy vi tính mực màu đen và chữ viết tay bằng mực màu xanh, có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P phía dưới dòng chữ “Đại diện bên A", chữ ký ghi tên Trương Thị Đặng P1 dưới dòng chữ “Bên làm chứng", chữ ký ghi tên Dương Văn C phía dưới dòng chữ “Đại diện bên B” và có nội dung xác nhận, chữ ký ghi tên Mai Văn V1 phía dưới dòng chữ “Trưởng ấp”; 01 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” có in số DL383097, người sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1994, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Long An có chữ ký, dấu tên ông Huỳnh Anh T2 - Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L và hình dấu tròn, màu đỏ có chữ “Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L - Văn phòng đăng ký đất đai”, kết luận giám định xác định là giả; 01 “Giấy nhận tiền đặt cọc bán đất” ghi ngày 10/5/2024 có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P phía dưới chữ “Bên bán” và chữ ký ghi tên Dương Văn C dưới chữ “Bên mua” cần tiếp tục lưu hồ sơ chính vụ án.
[6.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, số sêri: RF8N10ZEA0E, số IMEI 1: 353676111473302, số IMEI 2: 353677111473300, đã qua sử dụng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0971824349 thuộc sở hữu của bị cáo, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách.
[7] Về các vấn đề khác:
[7.1] Đối với người đàn ông đã làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo P. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[7.2] Đối với nhân viên giao hàng đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được làm giả cho bị cáo P. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[7.3] Đối với bà Trương Thị Đặng L bên làm chứng ký tên trong hợp đồng đặt cọc ngày 17/5/2024 giữa bị cáo P (bên nhận cọc) và ông Dương Văn C (bên đặt cọc). Quá trình điều tra, bà Đ không biết việc P có hành vi sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được làm giả để chiếm đoạt tiền đặt cọc của anh Trần Công Đ1 nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[8] Về án phí:
[8.1] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí có giá ngạch đối với tổng số tiền hoàn trả cho bị hại theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (ngày 19/6/2024).
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tiếp tục lưu hồ sơ chính vụ án các tài liệu: 01 “Hợp đồng đặt cọc” gồm 02 (hai tờ giấy A4) có chữ đánh máy vi tính mực màu đen và chữ viết tay bằng mực màu xanh, có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P phía dưới dòng chữ “Đại diện bên A", chữ ký ghi tên Trương Thị Đặng P1 dưới dòng chữ “Bên làm chứng", chữ ký ghi tên Dương Văn C phía dưới dòng chữ “Đại diện bên B” và có nội dung xác nhận, chữ ký ghi tên Mai Văn V1 phía dưới dòng chữ “Trưởng ấp"; 01 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” có in số DL383097, người sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất là ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1994, CMND số: [...], địa chỉ thường trú: ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Long An có chữ ký, dấu tên ông Huỳnh Anh T2 - Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L và hình dấu tròn, màu đỏ có chữ “Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L - Văn phòng đăng ký đất đai”, kết luận giám định xác định là giả; 01 “Giấy nhận tiền đặt cọc bán đất” ghi ngày 10/5/2024 có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P phía dưới chữ “Bên bán” và chữ ký ghi tên Dương Văn C dưới chữ “Bên mua” cần tiếp tục lưu hồ sơ chính vụ án.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10 Lite, số sêri: RF8N10ZEA0E, số IMEI 1: 353676111473302, số IMEI 2: 353677111473300, đã qua sử dụng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0971824349. Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 47/QĐ-VKSTT, ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh và biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải trả lại cho anh Trần Công Đ1 số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng) và bồi thường thiệt hại số tiền là 30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo Nguyễn Thanh P phải trả cho anh Trần Công Đ1 là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng).
- Về án phí: căn cứ Điều 135, 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.00.000đ (mười một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Về nghĩa vụ chậm trả:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được yêu cầu thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
- Về quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh P - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
