Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 25/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Cao Hoàng Dân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:59/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN R, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Văn T (Chết ngày 01/10/2024) và bà Nguyễn Thị L; vợ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988, con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2015: tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 227 lập ngày 20/8/2024 tại Công an huyện M.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2024 đến ngày 09/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1952 (đã chết).

Đăng ký thường trú: thôn Đ, xã H, huyện M, Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Phạm Thị M, sinh năm 1952 (đã chết), gồm:

Ông Trịnh Xuân D, sinh năm 1950 (Chồng bà M), Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Chị Trịnh Thị M1, sinh năm 1977 (con bà M), Vắng mặt.

Anh Trịnh Xuân K, sinh năm 1981(con bà M), Vắng mặt.

Chi Trịnh Thị C, sinh năm 1985 (con bà M), Vắng mặt.

Anh Trịnh Xuân N, sinh năm 1988 (con bà M), Vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của chị Trịnh Thị M1, anh Trịnh Xuân K, chị Trịnh Thị C và anh Trịnh Xuân Nghĩa L1: Ông Trịnh Xuân D, sinh năm 1950, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969. Trú tại: thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 02/8/2024 tại đoạn đường rẽ (từ đường D đến bệnh viện đa khoa huyện M), trước cửa hàng Phòng khám R1, thôn H, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô tô BKS: 29D - 232.09 do Nguyễn Văn R, sinh năm 1988, địa chỉ: thôn H, xã H, huyện M, TP Hà Nội điều khiển, trong khi lùi xe đã xảy ra va chạm với Phạm Thị M, sinh năm 1952, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện M đang đi bộ phía sau. Hậu quả: bà M bị thương nặng, sau khi được đưa cấp cứu tại Bệnh viện Q, đã tử vong hồi 13 giờ cùng ngày.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện M khám nghiệm hiện trường, tạm giữ ô tô BKS: 29D-232.09 liên quan trong vụ tai nạn. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn R ngày 02/8/2024 : Âm tính. Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở : 0,000 mg/l.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường rẽ (đi từ đường 419 đến bệnh viện đa khoa huyện M) khu vực trước cửa phòng khám răng Trung Tính thôn H, huyện M. Đường thẳng trải nhựa Apphan tầm nhìn không bị che khuất, lòng đường rộng 6,5m, vỉa hè bên trái theo chiều từ tỉnh lộ 419 đến Bệnh viện đa khoa huyện M rộng 1,9m, vỉa hè bên phải rộng 3,6m. Hiện trường đã có sự thay đổi, nạn nhân và phương tiện đều di chuyển khỏi hiện trường nên không ghi nhận dấu vết.

Ngày 15/8/2024, Cơ quan điều tra Công an tiến hành dựng lại hiện trường: Theo chiều hướng từ đường tỉnh lộ 419 đến Bệnh viện đa khoa huyện M, lấy mép đường bên trái và cột điện TBA Hà Xá 2/2 làm mốc chuẩn, kết quả khám ghi nhận:

- Dấu vết số 01: Xác định vị trí bà Phạm Thị M ngã sau khi xảy ra tai nạn, nạn nhân nằm nghiêng bên trái, hai chân hai tay co tự nhiên, đầu hướng đường phía tỉnh lộ, chân hướng Bệnh viện đa khoa huyện M. Đỉnh đầu cách mép đường bên trái là 1,6m, gót chân phải cách mép đường bên trái 1,5m.

- Dấu vết số 02: Xe ô tô BKS 29D-232.09 ở trạng thái đỗ trên lòng đường, đầu xe hướng Bệnh viện đa khoa huyện M, đuôi xe hướng đường 419. Trục bánh xe sau bên trái cách gót chân phải bà Phạm Thị M là 1,1m, cách mép đường bên trái là 75cm. Trục bánh phía trước bên trái cách mép đường trái 65cm.

Trục bánh xe phía sau bên phải xe ô tô BKS 29D-232.09 cách điểm mốc chuẩn (cột điện H 212) là 6,9m về hướng đường TL 419.

2

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Nạn nhân Phạm Thị M được gia đình đưa đến cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện M. Chẩn đoán khi vào viện: Đa chấn thương, tổn thương bụng dưới lưng và chậu, gãy cung sau xương sườn 7,8,9,10,11; Chuyển bệnh viện 103 nhưng đã tử vong hồi 13 giờ cùng ngày 02/8/2024.

Cùng ngày 02/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1049A/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K1 - Công an T2 giám định nguyên nhân chết và xác định nồng độ cồn của bà Phạm Thị M.

Tại Bản kết luận giám định số 6613/KLGĐTT-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K1 Công an T2 xác định:

1. Phần khám ngoài:

- Đầu, mặt, cổ: Tóc dài ngang lưng, da đầu không có thương tích. Vùng mặt không có thương tích. Hai lỗ tai, mũi, miệng không có tổn thương. Xương hàm mặt và răng bình thường. Vùng cổ không có thương tích. Cột sống cổ không có tổn thương.

- Ngực, bụng: Toàn bộ ngực bụng có nhiều vết sây xát da hằn, tụ máu trên diện (50x40)cm. Trong đó vùng mạn sườn phải có các vết hằn tụ máu song song nhau trên diện (25x4)cm. Vùng mạn sườn trái dưới hõm nách 2cm có các vết tụ máu diện (21x10)cm. Bộ phận sinh dục bình thường.

- Lưng, mông: Vùng mông phải từ thắt lưng xuống dưới và ra mặt trước đùi phải bị sây sát tụ máu trên diện (44x25)cm.

- Hai tay: Nếp khuỷu hai bên có vết thương do dạng tiêm, xương khớp bình thường.

- Hai chân: Mặt trong đùi trái sát nếp bẹn bị sây sát tụ máu KT (20x15)cm. Gối phải có vết sây sát da KT (4,5x3)cm. Gối trái có vết sây sát da KT (4,5x2). Xương khớp không có tổn thương.

2. Khám trong:

- Đầu: Gia đình từ chối giải phẫu vùng đầu. Công an huyện M có biên bản về việc này.

- Ngực, bụng: Tổ chức dưới da ngực bụng bị tụ máu. Khoang ngực có máu. Dập tụ máu hai phổi. Lồng khí phế quản có nhiều máu. Bao tim, tim không có thương tích. Gãy xương ức vị trí tại vị trí khớp ức sườn 4-5. Gãy xương sườn từ 2 đến 7 tại đường giữa đòn bên phải. Gãy xương sườn từ số 2 đến 6 bên trái dọc theo đường giữa đòn. Gãy cung sau xương sườn 6, 7, 8, 9 bên phải. Ô bụng có máu. Dập vỡ nhu mô gan. Lách không có tổn thương. Xương chậu bình thường.

Kết luận:

* Nguyên nhân chết: Đa chấn thương

* Thương tích trên nạn nhân hình thành do vật tày gây nên.

* Trong mẫu máu nạn nhân không tìm thấy E.

Kết quả khám phương tiện đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD, màu trắng, BKS: 29D-232.09:

- Mặt ngoài cửa sau bên trái đuôi xe có dấu vết mất bụi KT (28x23)cm. Vị trí thấp nhất cách mặt đất 86cm.

3

- Chắn bùn bánh sau bên trái có dấu vết mất bụi KT (11m5x4,5)cm. Vị trí vết mất bụi ở mặt ngoài tiếp giám với mép dưới và mép trái chắn bùn. Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn R khai nhận:

Bản thân có giấp phép lái xe hạng B2 do Sở G cấp ngày 31/12/2015 (có thời hạn đến ngày 31/12/2025). Khoảng 9 giờ 40 phút ngày 02/8/2024, Nguyễn Văn R điều khiển xe ô tô tải van 03 chỗ ngồi, BKS: 29D-232.09 cùng vợ là Nguyễn Thị T1 phụ xe cho chở bình nước tinh khiết đi từ Công ty TNHH L2, địa chỉ: thôn H, xã Đ đến giao hàng tại phòng khám R1. Rồng dừng đỗ xe trái đường trước cửa phòng khám để giao hàng, sau khi xong trở lại xe nổ máy lùi ra phía đường 419, Rồng quan sát qua gương chiếu hậu không thấy chướng ngại vật nên điều khiển lùi từ phần đường bên trái sang bên phải (theo hướng từ Bệnh viện đa khoa huyện M đi ra tỉnh lộ 419). Khi xe lùi được khoảng 10m thì nghe tiếng va chạm từ phía sau, R điều khiển xe tiến lên khoảng 01m rồi đạp phanh dừng lại, khi xuống xe phát hiện bà Phạm Thị M bị thương, sau đó được mọi người đưa đi cấp cứu.

Cơ quan điều tra đã kiểm tra trích xuất được hình ảnh camera tại thời điểm xảy ra sự việc, ghi nhận diễn biến vụ tai nạn phù hợp với lời khai bị can.

Quá trình giải quyết vụ án, hai bên đã tự thương lượng bồi thường, Nguyễn Văn R đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 150.000.000đồng. Ngày 9/8/2024 ông Trịnh Văn D1 (là chồng bà M) và các con của bà M có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn R.

Công an huyện M ngày 14/8/2024, xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe, kết quả xác minh: xe ô tô BKS: 29D-232.09 đăng ký ngày 25/10/2021, đăng ký xe có giá trị 25/01/2032, chủ xe: Nguyễn Văn B, địa chỉ: H, Đ, M, Hà Nội, loại ô tô tải Van, 03 chỗ ngồi, nhãn hiệu Ford, trọng tải: 940kg, khối lượng bản thân: 2284kg. Cơ quan điều tra đã xác minh chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1969, trú tại xã Đ, huyện M, TP Hà Nội. Nguyễn Văn R lái xe thuê cho anh B. Qua tra cứu, chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, ngày 20/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả phương tiện cho chủ sở hữu.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo R đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với camera, thừa nhận đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết luận giám định, bị cáo đã bồi thường cho đại diện của gia đình bị hại. Bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Tại cáo trạng số: 53/CT- VKS - HS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn Rồng về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Văn R từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo R đã bồi thường cho gia đình nạn nhân đầy đủ và đại diện gia đình nạn nhân không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả bị cáo Nguyễn Văn R 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên Nguyễn Văn R.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi pham tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện của người bị hại và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện theo uỷ quyền của người đại diện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử hành xét xử vắng mặt họ theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, lời khai của người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, dấu vết, khám nghiệm phương tiện, tử thi, kết luận giám định, bản ảnh, video camera, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ sáng ngày 02/8/2024, tại đường rẽ (từ đường 419 đến bệnh viện Đ), thuộc địa phận thôn H, xã Đ, huyện M, TP .. Nguyễn Văn R điều khiển xe ô tô tải Van, nhãn hiệu Ford, 03 chỗ ngồi, trọng tải 940kg, BKS: 29D-232.09, trong khi lùi xe thiếu quan sát đã lùi xe ô tô vào bà Phạm Thị M đang đi bộ dưới lòng đường. Hậu quả, bà Phạm Thị M bị thương nặng dẫn đến tử vong.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn R đã không tuân thủ quy định khi lùi xe, vi phạm khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ;

Khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm mới được lùi”.

5

Hành vi của Nguyễn Văn R điều khiển xe ô tô vi phạm Luật giao đường bộ để xảy ra tai nạn gây hậu quả chết người như trên đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điều 260: Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người...”

Như vậy: Hành vi của Nguyễn Văn R đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng khi tham gia giao thông, gây tổn hại đến tính mạng của một người. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford, số chỗ ngồi: 03, BKS: 29D-232.09 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô ngày 25/10/2021. Tại phiếu trả lời xác minh của Công an huyện M ngày 14/8/2024, xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe, kết quả xác minh: xe ô tô BKS: 29D-232.09 đăng ký ngày 25/10/2021, đăng ký xe có giá trị 25/01/2032, loại ô tô tải Van, nhãn hiệu Ford, trọng tải: 940kg. Bị cáo có giấy phép lái xe phù hợp. Tuy nhiên, khi điều khiển xe tham gia giao thông đã không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ nên gây ra tai nạn làm thiệt hại tính mạng của người khác. Việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên toà hôm nay là cần thiết và cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi xảy ra tai nạn đã tích cực đưa người bị hại đi cấp cứu. Trong quá trình giải quyết hậu quả của vụ tai nạn, bị cáo đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại 150.000.000đồng; đại diện của người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bị hại cũng có lỗi, vị trí đường giao thông có lối dành riêng cho người đi bộ nhưng vẫn đi dưới lòng đường, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ: “Người đi bộ phải đi trên hè phố, lề đường; trường hợp đường không có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường”. Bị cáo được UBND xã H xác nhận về điều kiện và hoàn cảnh là lao động

6

chính trong gia đình, hiện đang nuôi 03 con nhỏ và mẹ già. Bố đẻ của bị cáo ông Nguyễn Văn T chết ngày 01/10/2024 do mắc mệnh ung thư. Bị cáo chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tham gia đóng góp đầy đủ các phòng trào ủng hộ tại địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những nhận định trên xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, hai bên đã tự thương lượng bồi thường, bị cáo Nguyễn Văn R đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 9/8/2024 ông Trịnh Văn D1 (là chồng bà M) cùng các con của bà M có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn R và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số: [...] mang tên Nguyễn Văn R do Sở giao thông vận tải thành phố G cấp ngày 31/12/2015 (có giá trị đến ngày 31/12/2025) thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo R sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đối với Đối với chiếc ô tô tải van 03 chỗ ngồi, nhãn hiệu Ford màu trắng, BKS: 29D-232.09, Cơ quan điều tra đã xác minh chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1969, trú tại xã Đ, huyện M, TP Hà Nội. Nguyễn Văn R lái xe thuê cho anh B. Qua tra cứu, chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên ngày 20/8/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả phương tiện cho chủ sở hữu là anh B nên không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn R phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

7

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Văn R 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn R cho UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn R 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Nguyễn Văn R.

Tình trạng vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án Dân sự quản lý và theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn R có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại và người đại diên theo uỷ quyền của đại điện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo; Người đại diện của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Cường

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger