|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 21 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thí và bà Hoàng Thị Thoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/HSST ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Bị cáo: Ngô Thị M, sinh ngày 10/01/1970, tại: tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Xuân Đ và bà: Phạm Thị D (đều đã chết); có chồng: Hoàng H và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam từ ngày 02/4/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo: Lê Thị V, sinh ngày 06/5/1968 tại: tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân V1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị M1; có chồng: Nguyễn T và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam từ ngày 02/4/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị M: Ông Ngô Đức T1 - Luật sư Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: D đường L, phường B, TP Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị V: Ông Phạm Hữu V2 - Luật sư Công ty L2; địa chỉ: Số F đường H, TP Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng H, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Ông Nguyễn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, Lực lượng phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Q chủ trì, phối hợp với Đồn Biên phòng N1, Đồn Biên phòng L3 tuần tra, khi đến khu vực thôn B, xã Q, thành phố Đ, phát hiện bắt quả tang 02 đối tượng Ngô Thị M điều khiển xe mô tô BKS: 73F1-530.32 đang chở 02 bao lác màu xanh và Lê Thị V điều khiển xe mô tô BKS: 73F1-512.09 chở 03 bao lác màu xanh. Tổng 05 bao lác màu xanh bên trong chứa 50,1kg (năm mươi phẩy một kilogam) thuốc nổ, 50m (năm mươi mét) dây cháy chậm và 100 cái (một trăm) kíp nổ đốt số 8, vận chuyển từ xã N vào thành phố Đ, với mục đích đem bán kiếm lời.
Đồn biên phòng N1 tiến hành khám xét chỗ ở của Ngô Thị M và Lê Thị V, lực lượng Bộ đội biên phòng phát hiện và thu giữ tại nhà Ngô Thị M 3,42kg (Ba phẩy bốn hai kilogam) thuốc nổ, 10m (mười) dây cháy chậm và 54 cái (năm mươi bốn cái) kíp nổ đốt số 8.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 21/3/2024, có một người lạ sử dụng số điện thoại 0916.795.xxx gọi đến số 0989.720.552 do Lê Thị V đang sử dụng, rồi tự mình giới thiệu người ở xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình hỏi mua gạo (thuốc nổ). Tại đây, Lê Thị V nói hiện tại chưa có và hứa hẹn sẽ tìm hiểu và thông báo lại sau. Sau đó Lê Thị V lưu số điện thoại của người này trong máy điện thoại của mình với tên là “Em Hải N". Sau khi thỏa thuận và trao đổi với “Em Hải N" xong. Do quen biết với Ngô Thị M từ trước, nên vào khoảng 09 giờ 50 phút ngày 28/3/2024, Lê Thị V đã chủ động gọi vào số điện thoại 0337.809.xxx của M đang sử dụng, với mục đích hỏi có thuốc nổ bán không vì có người ở xã H, huyện Q hỏi mua. Lúc này M nói không có, để M tìm kiếm nguồn hàng rồi trao đổi lại sau. Sau đó, V liên lạc cho “Em Hải Ninh” trao đổi là có hỏi rồi nhưng chưa có hàng (thuốc nổ), “Em Hải Ninh” bảo V cố gắng tìm nguồn vật liệu nổ, hai bên hẹn liên lạc sau.
Để thực hiện lời hứa với Lê Thị V, sáng ngày 01/4/2024, Ngô Thị M đang đi bộ qua đường vào khu vực nghĩa địa thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình gặp lại người đàn ông (không rõ lai lịch) mà trước đây đã từng bán vật liệu nổ cho mình, M gọi và hỏi, sau đó cả hai người trao đổi, thoả thuận cách nhận hàng và trả tiền. Quá trình trao đổi xong, Ngô Thị M đồng ý lấy 50kg (năm mươi ki lô gam) thuốc nổ loại nếp, với giá 700.000đ/kg (bảy trăm ngàn đồng trên một ki lô gam); 100 (một trăm) cái kíp (chiếc đũa) với giá 15.000.000đ/100 cái (mười lăm triệu đồng trên một trăm cái); 50 (năm mươi) mét (một cuộn) dây cháy chậm
(dợ) với giá 7.500.000đ/cuộn (bảy triệu năm trăm ngàn đồng trên cuộn nguyên), nếu lấy thì cứ đi hết đường nghĩa địa vào đến nhà thờ họ H1 là thấy, còn tiền khi nào bán xong lấy tiền bỏ vào trong túi nilon để tại vị trí lấy thuốc nổ. Sau khi thống nhất được giá cả và địa điểm lấy hàng, M đi bộ về nhà.
Vào khoảng trưa ngày 01/4/2024, M liên lạc cho V nói là đã có hàng (vật liệu nổ) rồi, bảo V hỏi lại cho người mua cần bao nhiêu. Đến 15 giờ 47 phút cùng ngày “Em Hải Ninh” liên lạc cho V hỏi “có hàng chưa”, thì V bảo “có rồi”, V hỏi “cần bao nhiêu”, người này bảo nếu có thuốc nổ thì bán cho khoảng 50kg (năm mươi ki lô gam), còn không có thì bán cho 10kg (mười ki lô gam), nếu có “Đũa” (kíp nổ) thì lấy khoảng 50 (năm mươi) cái và dây (dây cháy chậm) thì lấy nguyên một cuộn. Đến 16 giờ 05 phút, V liên lạc cho M, trao đổi nội dung như “Em Hải N” nói, M bảo có nguyên một hộp 100 (một trăm) cái kíp với giá 16.000.000₫ (mười sáu triệu đồng), dây cháy chậm có một cuộn với giá 8.000.000đ (tám triệu đồng), thuốc nổ có 50kg (năm mươi ki lô gam) với giá là 750.000đ/kg (bảy trăm năm mươi ngàn đồng)/kg, bảo V hỏi lại người mua có lấy không. Sau đó, V liên lạc lại cho “Em Hải N” báo lại số lượng vật liệu nổ và giá cả như M nói, người này đồng ý và bảo V ghi cụ thể số lượng thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm, giá cả từng loại ra một tờ giấy, bỏ trong túi kíp với dây cho người này, hẹn ngày 02/4/2024 sẽ liên hệ để lấy hàng. Đến 16 giờ 22 phút, M liên lạc cho V, V trao đổi nội dung như đã thỏa thuận với “Em Hải Ninh” để M chuẩn bị. Lúc này M nói giá tiền nếu bán được sẽ lời 4.000.000 đ (bốn triệu đồng) thoả thuận mỗi người sẽ nhận 2.000.000 đ (hai triệu đồng), M nói V sau khi nhận được tiền cho M mượn thêm 500.000 đ (năm trăm ngàn đồng) để đống tiền bảo hiểm, V đồng ý. Sau đó, M đã xé một góc dưới bên phải của tờ lịch treo tường (không nhớ lấy ở đâu), lấy bút, mực màu đen đang bỏ trên đầu để kẹp tóc ghi vào mặt sau của tờ lịch (sau khi ghi xong không nhớ bỏ ở đâu) và ghi lại giá cụ thể của từng loại (Thuốc nổ, dây và kíp nổ). Tổng cộng là 61.500.000 đồng (sáu mươi mốt triệu năm trăm ngàn đồng).
Vào 16 giờ 47 phút ngày 02/4/2024, “Em Hải N” liên lạc với Lê Thị V nói đang điều khiển tàu chạy lên, khoảng 19 giờ đến 19 giờ 30 phút là đến khu vực bãi dương thuộc thôn B, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình và khi nào đến nơi sẽ liên lạc để V đưa hàng (thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm) ra. Khoảng thời gian từ 17 giờ đến 18 giờ 30 phút, M gọi cho V hỏi người đàn ông khi nào lấy hàng, V trả lời khi nào người đàn ông đến, V sẽ chủ động liên hệ với M để cùng chở hàng (thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm vật liệu nổ) đi giao. Đến 18 giờ 46 phút, V gọi điện đến cho M nhưng M không nghe máy, đến 18 giờ 53 phút, M gọi đến cho V, thì V bảo “gần đến giờ hẹn người đàn ông lấy hàng, V muốn xuống nhà M để lấy hàng đi luôn”, M đồng ý. Đến 18 giờ 59 phút, V liên hệ cho “Em Hải N” để hỏi thời gian và địa điểm giao hàng. Sau khi biết được địa điểm cụ thể, V điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 73F1-512.09 từ nhà riêng của mình đến nhà M, do lạc đường, nên V gọi cho M, sau đó M chỉ đường rẽ lên nghĩa địa thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình, đến vị trí mình đang đứng. Khi đến nơi, thấy M chờ sẵn đó rồi, sau đó cả hai đi hết đường đến trước nhà thờ họ H1 thì dừng xe lại ở bãi đất trống, nhìn phía trước bên phải có 05 (năm) bao lác màu xanh bên trong
chứa thuốc nổ được đặt trước nhà thờ họ, M và V cùng xuống bốc, đầu tiên bốc lên xe Vĩ bốn bao lác màu xanh, M bốc một bao lác màu xanh bỏ ở vị trí trước ba ga xe và một túi nilon. Vĩ thấy xe mình nặng và cồng kềnh nên chuyển lại cho Mai một bao lác màu xanh. Sau đó M cùng V điều khiển xe di chuyển theo hướng Đ1, ra đường liên thôn của thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình đi theo hướng Nam ra đường biển hướng về xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Khi đang vận chuyển vật liệu nổ trên đường, V và “Em Hải Ninh” gọi điện trao đổi là “Em Hải N” đang chờ sẵn và dặn V cứ chạy, khi thấy người soi đèn thì chạy ra. Khi M và V chạy xe ra khu vực bãi dương thuộc thôn B, Q, Đ, Quảng Bình thì thấy một người soi đèn chỉ dẫn. Đến 20 giờ 30 phút, M và V chạy xe đến, dùng xe, V bốc thuốc nổ từ xe xuống 03 (ba) bao lác màu xanh bên trong chứa thuốc nổ, còn số vật liệu nổ của M vẫn nguyên trên xe thì bị lực lượng Biên phòng phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài ra, khoảng cuối tháng 10 năm 2023, Ngô Thị M có mua của một người đàn ông không quen biết 3,42kg (Ba phẩy bốn hai kilôgam) thuốc nổ, 10m (mười) dây cháy chậm và 54 cái (năm mươi bốn cái) kíp nổ đốt số 8, cất giấu để khi nào cần mang ra sử dụng.
Về vật chứng. Quá trình điều tra đã thu giữ gồm:
- 04 (bốn) túi nilon màu trắng đục, bên trong mỗi túi đều có chứa chất bột, màu xám, tổng khối lượng là 3,42kg (ba phẩy bốn mươi hai ki lô gam); 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong chứa một cuộn dây màu đen, dài 10m (mười mét); 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong chứa 54 (năm mươi bốn) ống kim loại hình trụ màu bạc trắng, đường kính 6,8mm (sáu phẩy tám mi li mét), đáy lõm.
- 05 (năm) bao lác màu xanh, bên trong mỗi bao đều có 01 (một) túi nilon màu đen, trong mỗi túi nilon màu đen đều có 02 (hai) túi nilon màu vàng, bên trong có chứa các cục chất rắn, màu xám, hình dạng và kích thước khác nhau, tổng khối lượng là 50,1kg (năm mươi phẩy một kì lô gam); 01 (một) túi nilon màu vàng, bên trong chứa một cuộn dây màu đen, dài 50m (năm mươi mét); 01 (một) túi nilon màu trắng đục, bên trong chứa 100 (một trăm) ống kim loại hình trụ màu bạc trắng, đường kính 6,8mm (sáu phẩy tám mi li mét), đáy lõm.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ - đen, BKS: 73F1- 530.32, số máy: E32VE321708; số khung: RLCUE3720MY060799, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ nâu, BKS: 73F1- 512.09, số máy: JF86E5232233 ; số khung: RLHJF5822LZ019574, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động (đã niêm phong) nhãn hiệu Iphone, số IMEI 1: 355696071626804; số IMEI 2: 35569607162680, gắn 01 (một) SIM điện thoại mang số 0989.720.xxx. Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 (một) điện thoại di động (đã niêm phong) nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 353535065146035; số IMEI 2: 353535065146043, gắn 01 (một) SIM điện thoại mang số 0337.809.xxx. Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 73001301, mang tên Ngô Thị M.
- 01 (một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày 27/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ C, mang tên Ngô Thị M.
- 01 (một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày 14/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ C, mang tên Lê Thị V.
- 01 (một) thùng nhựa nhiều màu sắc trên có nhiều ký tự nước ngoài, nắp đậy màu vàng.
- Một góc dưới bên phải của tờ lịch treo tường, mặt sau ghi các ký hiệu 100 đua =16.000 (mười sáu triệu); 1 cuộn 8 triệu; 50° x 375 = 37.500 tổng 61.500 bằng mực màu đen.
Tại Bản cáo trạng số 481/CT-VKSQB-P1 ngày 19 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Ngô Thị M “Tàng trữ trái phép chất vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự và tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Lê Thị V về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 305; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 47 Bộ luật hình sự (Bị cáo M áp dụng thêm khoản 1 Điều 305 và Điều 55 BLHS); các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị M từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” và từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”, tổng hợp hình phạt của hai tội và buộc bị cáo M phải chấp hành hình phạt của hai tội từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm 03 tháng tù. Xử phạt bị cáo Lê Thị V từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”; về hình phạt bổ sung: Không xử phạt bổ sung đối với các bị cáo; về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy vật liệu nổ và Tịch thu bán hóa giá nộp ngân sách nhà nước phần tài sản xe mô tô thuộc sở hữu của các bị cáo; tuyên các bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với toàn bộ nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đến mức có thể để các bị cáo có điều kiện sớm trở về chăm sóc gia đình và hòa nhập cộng đồng.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo nhất trí quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quá trình nhân thân của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, đều là phụ nữ có gia đình, hoàn cảnh khó khăn. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51BLHS, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 để xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề. Xử phạt mức thấp nhất mà Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị để cho các bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện cải tạo, giáo dục tại địa phương chăm sóc gia đình và đề nghị trả lại xe mô tô cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyển, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Theo đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Thị M, Lê Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp về thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/4/2024, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 02/4/2024, Ngô Thị M và Lê Thị V đang vận chuyển 50,1 kilôgam thuốc nổ; 50m (năm mươi mét) dây cháy chậm và 100 (một trăm) kíp nổ đốt số 8 trên hai xe mô tô, mang Biển kiểm soát 73F1-530.32 do Ngô Thị M điều khiển và Biển kiểm soát 73F1-512 do Lê Thị V điều khiển, đi bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài hành vi trên, Ngô Thị M còn có hành vi tàng trữ 3,42 kilôgam thuốc nổ; 10m (mười) dây cháy chậm và 54 cái (năm mươi bốn cái) kíp nổ đốt số 8, tại nhà ở của mình, để sử dụng. Do đó, hành vi của các bị cáo Ngô Thị M và Lê Thị V đã phạm tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự và bị cáo Ngô Thị M còn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự, đúng như tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện thấy: Các bị cáo là người đã có gia đình, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên nhận thức và biết được vật liệu nổ là mặt hàng được Nhà nước quản lý, sử dụng, mọi hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái với quy định của pháp luật đều bị pháp luật nghiêm cấm và bị coi là tội phạm. Nhưng do ý thức coi thường, bất chấp pháp luật, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý vận chuyển một khối lượng thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm với mục đích đưa đi bán kiếm lời. Ngoài ra, bị cáo M còn cố ý cất dấu một khối lượng thuốc nổ, dây cháy chậm và kíp nổ để sử dụng. Các bị cáo đã cùng nhau cố ý thực hiện việc vận chuyển, mua bán thuốc nổ nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vật liệu nổ của nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, tiềm ẩn nguy cơ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện để nhằm đấu tranh, ngăn chặn việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán vật liệu nổ trên địa bàn.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; các bị cáo đều là phụ nữ có tuổi, lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Bị cáo Ngô Thị M có Bố đẻ và B nội là người có công với cách mạng; hơn nữa bản thân bị cáo là người đã từng cứu trẻ bị đuối nước, tham gia đóng góp giúp đỡ các gia đình bị nạn được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo Lê Thị V có bố và mẹ đẻ là người có công với cách mạng; bản thân bị cáo là người đã từng cứu trẻ bị đuối nước, tham gia đóng góp giúp đỡ các gia đình bị nạn được chính quyền địa phương xác nhận, nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội thấy:
Bị cáo Ngô Thị M ngoài việc tàng trữ trái phép vật liệu nổ, thì khi nghe bị cáo Lê Thị V liên lạc trao đổi có người mua vật liệu nổ, bị cáo M đã chủ động tìm người mua, thương lượng số lượng, giá cả và thỏa thuận chia số tiền sau khi bán được vật liệu nổ, cũng là người trực tiếp vận chuyển thuốc nổ đi bán cùng với V; còn V là người trực tiếp liên hệ thương lượng về khối lượng, giá cả, hẹn thời gian, địa điểm giao hàng với người mua vật liệu nổ và cũng là người trực tiếp vận chuyển thuốc nổ cùng M đi bán cho người mua. Do đó, cần xem xét tính chất, mức độ, vai trò của các bị cáo M và bị cáo V là tương đương nhau đối với tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”. Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề, để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo, nhưng các bị cáo M và V phạm tội rất nghiêm trọng, bị cáo M trong một thời gian đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội, nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo M và V hình phạt tù có thời hạn, mức hình phạt tương đương nhau đối với tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”, còn bị cáo M xử phạt tù có thời hạn về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” và tổng hợp hình phạt của nhiều tội, để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới và răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, BKS: 73F1- 530.32 của Ngô Thị M và xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ nâu, BKS: 73F1-512.09 của Lê Thị V, đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng. Việc các bị cáo M, V sử dụng làm phương tiện vận chuyển vật liệu nổ thì chồng các bị cáo không biết. Vì vậy, cần xem xét trả lại ½ giá trị xe mô tô cho chồng các bị cáo.
- - Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 73001301, mang tên Ngô Thị M, do xe mô tô, xe gắn máy bị tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước, nên cần tịch thu 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 73001301, mang tên Ngô Thị M.
- - Đối với 01 (một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày 27/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C, mang tên Ngô Thị M và 01 (một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày 14/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C, mang tên Lê Thị V. Đây là các giấy tờ liên quan đến cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến vụ án. Vì vậy, cần trả lại cho các bị cáo.
- - Đối với 52,88kilôgam thuốc nổ; 59m dây cháy chậm và 150 kíp nổ thuộc phụ kiện nổ, thuộc vật liệu nổ cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Vì vậy, cần xem xét giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Q xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động (đã niêm phong) nhãn hiệu Iphone, số IMEI 1: 355696071626804; số IMEI 2: 35569607162680, gắn 01 (một) SIM điện thoại mangsố 0989.720.xxx; 01 (một) điện thoại di động (đã niêm phong) nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 353535065146035; số IMEI 2: 353535065146043, gắn 01 (một) SIM điện thoại mang số 0337.809.xxx và 01 (một) thùng nhựa nhiều màu sắc trên có nhiều ký tự nước ngoài, nắp đậy màu vàng. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với một góc dưới bên phải của tờ lịch treo tường, mặt sau ghi các ký hiệu 100 đua =16.000 (mười sáu triệu); 1 cuộn 8 triệu; 50° x 375 = 37.500 tổng 61.500 bằng mực màu đen là tài liệu, chứng cứ, nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Về các vấn đề khác:
Bị cáo Ngô Thị M: Ngoài hành vi đã bị khởi tố, còn có hành vi mua trái phép 3,42 kilôgam thuốc nổ, 10m (mười) dây cháy chậm và 54 cái (năm mươi bốn cái) kíp nổ đốt số 8. Tuy nhiên, với những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để khởi tố M về hành vi “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Ngô Thị M về hành vi này.
Đối với người đàn ông tên “Em Hải N” đã liên hệ với Lê Thị V để mua thuốc nổ và người đàn ông bán thuốc nổ cho Ngô Thị M. Với những tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, không đủ cơ sở để xác minh, điều tra, xử lý.
Đối với Bùi Văn T2, đứng tên chủ thuê bao số 0916.795.340 của "Em Hải Ninh”; Hồ Văn D1 (đã chết), đứng tên chủ thuê bao số điện thoại của Ngô Thị M sử dụng; Hoàng Văn L, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Bình là chủ nhà có khoảng đất trống nằm sát tường rào nhà Ngô Thị M, nơi M tàng trữ vật liệu nổ; chồng của Ngô Thị M và Lê Thị V. Với những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng này.
[8] Về án phí: các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” và phạm tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”; bị cáo Lê Thị V phạm tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”
- Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm a khoản 3 Điều 305; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị M 05 (Năm) năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” và 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 305; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị V 05 (Năm) năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu bán hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, BKS: 73F1- 530.32 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 73001301, mang tên Ngô Thị M.
- Tịch thu bán hóa giá nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị 01xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đỏ nâu, BKS: 73F1-512.09.
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động (đã niêm phong) nhãn hiệu Iphone, số IMEI 1: 355696071626804; số IMEI 2: 35569607162680, gắn 01 (một) SIM điện thoại mang số 0989.720.xxx; 01 (một) điện thoại di động (đã niêm phong) nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 353535065146035; số IMEI 2: 353535065146043, gắn 01 (một) SIM điện thoại mang số 0337.809.xxx và 01 (một) thùng nhựa nhiều màu sắc trên có nhiều ký tự nước ngoài, nắp đậy màu vàng.
- Trả lại 01 (một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày 27/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C, mang tên Ngô Thị M cho bị cáo Ngô Thị M. Trả lại 01 (một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày 14/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C, mang tên Lê Thị V cho bị cáo Lê Thị V.
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án một góc dưới bên phải của tờ lịch treo tường, mặt sau ghi các ký hiệu 100 đua =16.000 (mười sáu triệu); 1 cuộn 8 triệu; 50° x 375 = 37.500 tổng 61.500 bằng mực màu đen.
- Các vật chứng trên có đặc điểm được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình ngày 29/8/2024.
- Giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Q 52,88kilôgam thuốc nổ; 59m dây cháy chậm và 150 kíp nổ để xử lý theo quy định của pháp luật (có đặc điểm được mô tả như biên bản giao nhận giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Q ngày 20/06/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: xử buộc các bị cáo Ngô Thị M, Lê Thị V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA đã ký Dương Viết Hải |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất vật liệu nổ và vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất vật liệu nổ và Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm a khoản 3 Điều 305; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54, 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Mai 05 (Năm) năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/4/2024. 2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 305; các điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Vĩ 05 (Năm) năm tù về tội “Vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.
