|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/DS-ST Ngày: 24/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đinh Cường
2. Bà Trần Thị Mỹ Trang
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Hồng Phấn – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H4 (M2)
- Ông Phạm Thanh T – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ KHCN – Phòng XLN KHCN. (có mặt)
- Ông Châu Văn V – Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ KHCN – Phòng XLN KHCN. (vắng mặt)
- Ông Lương Văn H – Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ KHCN – Phòng XLN KHCN. (vắng mặt)
- Ông Lâm Dương Thiện P – Chuyên viên xử lý nợ KHCN – Phòng XLN KHCN. (vắng mặt)
- Bị đơn:
- Ông Hồ Văn B, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1975 (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn H1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Bà Hồ Thị Cẩm M1, sinh năm 1995 (có mặt)
- Bà Hồ Thụy Cẩm H2, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Bà Hồ Thị Thu T2, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Ông Trần Duy H3, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Bà Hồ Thị Thu P1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở chính: E N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hoàng L: Ông Bùi Đức Q - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Q1.
(Theo Giấy ủy quyền số 3897/2020/UQ-TGĐ12 ngày 20/7/2020 của Tổng Giám đốc về việc Ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng và thi hành án)
Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng của ông Bùi Đức Q:
Địa chỉ: Số D, đường N, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số D, đường N, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số D, đường N, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ
Địa chỉ: Số D, đường N, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ
(Theo Giấy ủy quyền số 9209/2023/GUQ-TGĐ12, ngày 02/10/2023)
Cùng địa chỉ: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Cùng địa chỉ: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2023 của nguyên đơn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Thanh T trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần H4 (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Hồ Văn B đã ký kết các hợp đồng tín dụng sau:
- Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV, ngày 26/01/2022:
- Số tiền vay: 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).
- Thời hạn vay: 120 tháng
- Mục đích vay vốn: Cho vay tiêu dùng mua sắm trang thiết bị trong gia đình.
- Lãi suất cho vay:
- + Lãi suất vay: Áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 26/01/2023 là 7,99%/năm.
- + Kỳ điều chỉnh lãi suất: 03 tháng/lần
- + Mức điều chỉnh lãi suất: Bằng lãi suất tham chiếu cộng biên độ 4%/năm.
- + Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên: 16/02/2023; Ngày điều chỉnh lãi suất định kỳ: 15.
- Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Hình thức trả nợ gốc, lãi: Nợ gốc trả đều hàng tháng, lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế giảm dần.
- + Số kỳ trả gốc: 120 kỳ. Ngày trả nợ gốc lần đầu tiên vào ngày 16/02/2022. Các kỳ tiếp theo nợ gốc được trả 1 tháng/ lần vào ngày 16 hàng tháng. Số tiền gốc phải trả mỗi kỳ: 4.583.334 đồng, kỳ cuối trả tất toán.
- + Số kỳ trả lãi: 120 kỳ. Ngày trả nợ lãi lần đầu tiên vào ngày 16/02/2022. Các kỳ tiếp theo nợ lãi được trả 1 tháng/lần vào 16 hàng tháng.
- Ngày 16/02/2022, ông Hồ Văn B và Ngân hàng TMCP H4 đã ký kết Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB, cụ thể như sau:
- Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
- Thời hạn vay: 36 tháng
- Mục đích sử dụng: Tiêu dùng cá nhân và gia đình
- Lãi suất cho vay: Lãi suất thả nổi (tức là lãi suất không cố định và có điều chỉnh), được niêm yết công khai tại các điểm giao dịch và trên website của M2.
- Hợp đồng tín dụng số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943, ngày 23/02/2022, cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 23/02/2022 đến ngày 23/02/2023)
- Mục đích sử dụng: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân.
- Lãi suất thấu chi: Là lãi suất thả nổi và được tính trên dư nợ gốc thực tế giảm dần.
- Lãi suất thấu chi trong hạn: Lãi suất vay áp dụng kể từ ngày cấp HMTC cho đến ngày 22/3/2022 là 16%/năm.
- Lãi suất quá hạn:
- + Khoản nợ gốc quá hạn phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất thấu chi trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả.
+ Đối với khoản lãi tính trên nợ gốc mà đến hạn chưa trả, khách hàng phải chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả là cố định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, Ngân hàng và ông Hồ Văn B, bà Trần Thị M, bà Hồ Thị Cẩm M1, bà Hồ Thụy Cẩm H2, ông Hồ Văn H1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp số: 0004/2022/HĐTC, ngày 26/01/2022 để thế chấp các tài sản như sau:
- Thửa đất số 89, tờ bản đồ số 07; diện tích 2.810,8m²; mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm; đất tọa lạc: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 600341, số vào sổ cấp GCN: CS04967, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 19/9/2016 cấp cho hộ ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M.
- Thửa đất số 219, tờ bản đồ số 07; diện tích 160,0m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; đất tọa lạc: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 600342, số vào sổ cấp GCN: CS04966, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 19/9/2016 cho hộ ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M.
Ngày 26/01/2022 giữa ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M đã ký kết văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng.
Sau khi ký các hợp đồng trên:
- Ngày 27/01/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Hồ Văn B theo Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022, số tiền là: 550.000.000 đồng.
- Ngày 16/02/2022, Ngân hàng đã cấp hạn mức thẻ tín dụng cho ông Hồ Văn B theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB, số tiền là: 50.000.000 đồng.
- Ngày 23/02/2022, Ngân hàng đã cấp hạn mức thấu chi ông Hồ Văn B theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943, số tiền là: 100.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng nói trên, ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng.
Ngày 16/3/2022, ông B, bà M bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV. Ngày 05/02/2022, ông B, bà M bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB. Ngày 23/02/2022, ông B, bà M bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, đôn đốc ông B, bà M trả nợ, nhưng đến nay ông, bà vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 24/9/2024, ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền là: 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng. Bao gồm các hợp đồng sau:
- Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV, ngày 26/01/2022: Nợ gốc: 472.083.322 đồng; nợ lãi trong hạn: 82.527.749 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.821.889 đồng.
- Thẻ tín dụng: Nợ gốc: 3.556.749 đồng; nợ lãi trong hạn: 18.047.395 đồng; nợ lãi quá hạn: 4.185.694 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943, ngày 23/02/2022: Nợ gốc: 83.188.397 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.338.523 đồng; nợ lãi quá hạn: 33.814.652 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP H4 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP H4 tổng số tiền là: 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng.
- Kể từ ngày 25/9/2024, ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV ngày 26/01/2022 và Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 16/02/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943 ngày 23/02/2022, cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Trường hợp, ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP H4 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để thu hồi nợ vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hồ Văn B trình bày:
Qua lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn hoàn toàn đúng sự thật, ông B thống nhất toàn bộ theo nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đại diện ngân hàng.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của ngân hàng: Ông B đồng ý trả toàn bộ nợ gốc và nợ lãi theo các Hợp đồng đã ký với Ngân hàng TMCP H4, cụ thể số tiền như sau: Số tiền tính đến ngày 21/12/2023 là: 631.539.359 đồng (Sáu trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm năm mươi chín đồng).
- Kể từ ngày 22/12/2023, ông B đồng ý thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV ngày 26/01/2022 và Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 16/02/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943 ngày 23/02/2022, cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Trường hợp, ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP H4 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để thu hồi nợ vay.
Tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị M trình bày: Bà M thống nhất với yêu cầu của Ngân hàng, bà M đồng ý:
- Bà Trần Thị M đồng ý liên đới cùng ông Hồ Văn B trả cho Ngân hàng TMCP H4 tổng số tiền là: 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng.
- Kể từ ngày 25/9/2024, bà Trần Thị M đồng ý liên đới cùng ông Hồ Văn B thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV ngày 26/01/2022 và Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 16/02/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943 ngày 23/02/2022, cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Trường hợp, ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng TMCP H4 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để thu hồi nợ vay.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Cẩm M1 trình bày: Bà M1 thống nhất với ý kiến trình bày của ông B, bà M và thống nhất với yêu cầu của Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP H4 tổng số tiền là 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/9/2024), bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất nợ quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV ngày 26/01/2022 và Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 16/02/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943 ngày 23/02/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để thu hồi nợ.
Khi phát mãi tài sản thế chấp cần dành cho ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) phần đất có nhà của ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 trong trường hợp ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 có nhu cầu mua.
Về chi phí tố tụng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải chịu trách nhiệm nộp toàn bộ chi phí là 600.000 đồng, nhưng do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước nên buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải nộp hoàn trả cho nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải chịu tiền án phí là 32.103.000 đồng (Ba mươi hai triệu một trăm linh ba nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp hợp đồng tín dụng; bị đơn có nơi cư trú tại xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn ông Hồ Văn B; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn H1, bà Hồ Thụy Cẩm H2, ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H4 yêu cầu bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên đơn và bị đơn ông B đều thừa nhận có ký kết Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV ngày 26/01/2022 và Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 16/02/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943 ngày 23/02/2022; đồng thời ngày 26/01/2022 giữa ông B và bà M có ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng. Xét thấy, các bên ký kết hợp đồng do những người có năng lực hành vi dân sự thực hiện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Do đó, hợp đồng các bên ký kết có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện đúng theo hợp đồng. Từ ngày vay cho đến nay bị đơn không thực hiện theo đúng thỏa thuận, do đó bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn bà M đều thống nhất xác định tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024 thì bị đơn còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP H4 tổng số tiền là 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để đảm bảo thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Xét thấy, để đảm bảo khoản vay nêu trên bị đơn ông Hồ Văn B, bà Trần Thị M, bà Hồ Thị Cẩm M1, bà Hồ Thụy Cẩm H2, ông Hồ Văn H1 đã ký hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022, hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng C, có nội dung: Thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 89, tờ bản đồ số 07; diện tích 2.810,8m²; mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm; đất tọa lạc: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 600341, số vào sổ cấp GCN: CS04967, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 19/9/2016 cấp cho hộ ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M và thửa đất số 219, tờ bản đồ số 07; diện tích 160,0m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; đất tọa lạc: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 600342, số vào sổ cấp GCN: CS04966, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 19/9/2016 cho hộ ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M. Đồng thời việc thế chấp các bên đã thực hiện đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M vào ngày 26/01/2022. Do đó, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để đảm bảo thu hồi khoản nợ theo quy định pháp luật là phù hợp với Điều 299 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ trên phần đất thế chấp thửa 89 có 01 căn nhà của ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2 và 01 căn nhà của ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 không thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý trong trường hợp Ngân hàng đề nghị kê biên, phát mãi tài sản thế chấp đối với thửa đất 89 thì cơ quan phát mãi có quyền dành quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) cho ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 phần đất có nhà của ông T1, bà T2, ông H3, bà P1 trong trường hợp ông T1, bà T2, ông H3, bà P1 có nhu cầu mua. Ý kiến này của đại diện nguyên đơn phù hợp với Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về chi phí tố tụng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải chịu trách nhiệm nộp toàn bộ chi phí là 600.000 đồng, nhưng do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước nên buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải nộp hoàn trả cho nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải chịu tiền án phí là 32.103.000 đồng (Ba mươi hai triệu một trăm linh ba nghìn đồng).
[5] Xét, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 299, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H4.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải nộp 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) hoàn trả cho nguyên đơn.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M phải chịu tiền án phí là 32.103.000 đồng (Ba mươi hai triệu một trăm linh ba nghìn đồng).
Buộc bị đơn ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP H4 tổng số tiền là 702.564.370 đồng (Bảy trăm linh hai triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi đồng). Trong đó nợ gốc: 558.828.468 đồng; nợ lãi trong hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 102.913.667 đồng; nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2024: 40.822.235 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/9/2024), bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi suất nợ quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 0004/2022/HĐCV ngày 26/01/2022 và Giấy nhận nợ lần 01 ngày 27/01/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 16/02/2022; Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01419/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3016943 ngày 23/02/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp ông Hồ Văn B và bà Trần Thị M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp số 0004/2022/HĐTC ngày 26/01/2022 để thu hồi nợ, bao gồm 02 thửa đất: Thửa đất số 89, tờ bản đồ số 07; diện tích 2.810,8m²; mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm; đất tọa lạc: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long và thửa đất số 219, tờ bản đồ số 07; diện tích 160,0m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; đất tọa lạc: ấp V, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Khi phát mãi tài sản thế chấp cần dành cho ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) phần đất có nhà của ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 trong trường hợp ông Phạm Văn T1, bà Hồ Thị Thu T2, ông Trần Duy H3, bà Hồ Thị Thu P1 có nhu cầu mua.
Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.154.000 đồng (Mười bốn triệu một trăm năm mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0005529, ngày 23/11/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 56/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng
