Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/DS-ST

Ngày: 23 - 9- 2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất;

và hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ẩn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Bà Lê Thị Huyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Diên Khánh - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Bùi Thị M – sinh năm 1949

Địa chỉ: B P, thị trấn D, D, Khánh Hòa. Có mặt.

*Bị đơn: Ông Diệp Chí L – sinh năm 1980

Bà Ngô Thị Phương T – sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Ông L, bà T Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn C – sinh năm 1944

Địa chỉ: B P, thị trấn D, D, Khánh Hòa.

Người đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Minh C1 – sinh năm 1976; Địa

chỉ: B P, thị trấn D, D, Khánh Hòa. Có mặt.

2. Bà Bùi Thị Khánh H – sinh năm 1957

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thị xã N, Khánh Hòa. Có mặt

3. Ông Ngô Quang K - sinh năm 1954

4. Bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1954

Địa chỉ: B P, thị trấn D, D, Khánh Hòa.

Ông K, bà T1 vắng mặt.

5. Ông Ngô Xuân T2, bà Lương Thị Lệ

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn D, huyện D, Khánh Hòa. Ông T2, bà L3 vắng mặt.

6. UBND huyện D

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bình N – Giám đốc chi nhánh V

đăng ký đất đai tại huyện D;

Địa chỉ liên lạc: 149 L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Ông Đoàn Thanh Tâm

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn D, huyện D, Khánh Hòa. Có mặt.

2. Phạm Thái C4 – sinh năm 1966

Địa chỉ: B Đ, P, thành phố N, Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các văn bản có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị M trình bày:

Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của ông Bùi K1 (ông K1 là cha ruột của nguyên đơn bà Bùi Thị M) tạm chiếm khoản đất công thổ được UBHC xã D xác nhận ngày 25/11/1963. Ngày 14/5/1967, ông Bùi K1 có bán cho ông Ngô Thành L1 và bà Dương Thị T3 là ông bà nội của bị đơn bà Ngô Thị Phương T và ông Diệp Chí L với diện tích 87 thước.

Năm 2010, ngày 16/4/2010, ông Ngô Quang K được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 12 tờ bản đồ số 40, thị trấn D, huyện D. Số vào sổ cấp GCN: CH00298, diện tích đất được câp:53,6m². Sau đó ông K tặng cho bà Ngô Thị Phương T và ông Diệp Chí L. Bà T và ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN:CH00298 do UBND huyện D cấp ngày 03/8/2014.

Phần diện tích đất còn lại của ông K1 hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà M là người trực tiếp quản lý, sử dụng từ khi ông K1 chết cho đến nay. Ông K1 mất năm 1982, bà M đã giao nộp: Trích lục khai tử số 179/TLKT-BS ngày 21/3/2024 của ông Bùi K1 và Trích lục khai tử số 180/TLKT-BS ngày 21/3/2024 của bà Hồ Thị L2. Ông K1 có vợ là bà Hồ Thị L2 (chết năm 1968) và 02 con là Bùi Thị M, bà Bùi Thị Khánh H. Ngoài ra ông K1 không có vợ, con nuôi hay con riêng nào khác.

Tại phiên tòa bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện, yêu cầu bị đơn phải trả cho bà 12,36 m² mà nhà nước cấp quyền sử dụng cho vợ chồng ông L và bà T tại thửa đất số 12 tờ bản đồ số 40 thị trấn D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02928 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/8/2014.

Yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa đất 12 tờ bản đồ số 40 thị trấn D, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ngô Quang K số CH00298 ngày 16/4/2010 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH2928 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/8/2014 cho ông L và bà T.

- Tai các văn bản có trong hồ sơ vụ án bị đơn ông Diệp Chí L trình bày:

Vợ chồng ông bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc tranh chấp đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi lý do:

Thứ nhất: Vợ chồng ông bà là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất tranh chấp. Nhà đất của chúng tôi bao gồm cả lối đi mà bà Bùi Thị M tranh chấp có nguồn gốc của ông bà nội của ông bà là ông Ngô Thành L1 và bà Dương Thị T3. Sau khi ông bà nội mất, nhà đất được giao cho cha là ông Ngô Quang K và chú Ngô Xuân T2; chú T2 được cấp giấy chứng nhận vào năm 2007 còn cha chúng tôi được cấp giấy chứng nhận vào năm 2010. Phần đất mà cha mẹ ông bà được nhận nằm ở phía sau nên có chừa một lối đi riêng để đi vào. Phần lối đi được ghi nhận trên phần đất giao cho cha mẹ của ông bà nhưng trên phần lối đi ấy có ba tấm đan cửa sổ của nhà Từ đường, hiện tại chú Ngô Xuân T2 đang quản lý và đứng tên nhà đất có các tấm đan che nêu trên đây.

Năm 2014 ông Ngô Quang K đã làm hợp đồng tặng cho thửa đất cho vợ chồng ông bà và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận vào ngày 05/8/2014. Như vậy, thửa đất của ông bà có nguồn gốc rõ ràng và đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hợp pháp từ năm 2010.

Thứ hai: Bà Bùi Thị M tranh chấp nhưng không có chứng cứ. Năm 1997, bà Bùi Thị M đã tranh chấp đường đi với ông Ngô Quang K nhưng cha cha mẹ ông bà không đồng ý và bà M cũng không có chứng cứ gì để tranh chấp. Vì vậy, năm 2010, UBND huyện D đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha chúng tôi.

Sau khi nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Quang K, và sau đó là cấp cho vợ chồng ông bà thì bà Bùi Thị M lại tiếp tục tranh chấp con đường đi và Ủy ban nhân dân thị trấn D lại tiếp tục hòa giải nhưng không thành bởi gia đình ông bà không chấp nhận yêu cầu của bà M và bà M cũng không có chứng cứ gì để chứng minh đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của bà. Đất của vợ chồng ông bà có nguồn gốc rõ ràng, sử dụng ổn định từ lâu đời và hiện nay đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Bà Bùi Thị M tranh chấp nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, vì vậy, ông đề nghị Tòa bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M.

- Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án bị đơn bà Ngô Thị Phương T trình bày: Bà T thống nhất với ý kiến của ông Diệp Chí L, không trình bày bổ sung ý kiến gì thêm.

- Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án Người đại diện theo uỷ quyền của có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C là ông Nguyễn Minh C1 trình bày: Ông C thống nhất với toàn bộ ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị M trình bày và không bổ sung ý kiến gì thêm.

- Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Khánh H trình bày: Bà H là em ruột của bà Bùi Thị M và là con của ông Bùi Kiệt . Ông K1 chết năm 1982, ông K1 có vợ là bà Hồ Thị L2 (chết năm 1968) và 02 con là Bùi Thị M, bà Bùi Thị Khánh H. Ngoài ra ông K1 không có vợ, con nuôi hay con riêng nào khác. Vào năm 1975, bà H lấy chồng và theo chồng về N sinh sống, chị em bà có thống nhất là giao phần tài sản là nhà đất của

cha mẹ để lại cho bà Bùi Thị M được hưởng và có trách nhiệm thờ cúng cha mẹ. Việc thỏa thuận này chỉ bằng miệng, không lập biên bản. Bà H xác định không có bất kỳ tranh chấp gì với bà M và thống nhất với toàn bộ yêu cầu của bà M. Việc ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có giấy tờ mua bán gì là không phù hợp. Ngoài ra bà H không bổ sung ý kiến gì thêm.

- Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Quang K và bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Đề nghị Tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M. Vào năm 1997, bà Bùi Thị M đã tranh chấp đường đi với ông nhưng ông không đồng ý và bà M không có chứng cứ gì để chứng minh. Vì vậy, năm 2010, UBND huyện D đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông và ông đã tặng cho con ông là Diệp Chí L và Ngô Thị Phương T.

Sau khi nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông, bà Bùi Thị M lại tiếp tục tranh chấp lối đi. Ngày 17/3/2020 và ngày 10/9/2021 Ủy ban nhân dân thị trấn lại tiếp tục hòa giải nhưng không thành. Đất có nguồn gốc của cha mẹ ông sử dụng từ lâu và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng từ năm 2010. Nay ông đã tặng cho con ông toàn bộ nhà đất. Vì vậy đề nghị tòa xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M. Ông K và bà T1 đề nghị giải quyết vắng mặt.

-Tại đơn trình bày ông Ngô Xuân T2 và bà Lương Thị L3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Nguồn gốc nhà đất của ông L, bà T là của cha mẹ ông để lại cho ông K. Về phần lối đi có tấm đan nhà từ đường mà hiện nay ông đang đứng tên sở hữu. Lối đi bà M đang tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông là Ngô Thành L1, Dương Thị T3. Sau khi cha mẹ ông mất thì để lại nhà đất cho ông và ông Ngô Quang K. Ông K ở phía sau nên có chừa đất làm lối đi. Phần đất bà M tranh chấp là của gia đình ông sử dụng có từ rất lâu đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận. Ông đề nghị tòa bác bỏ yêu cầu khởi kiện của bà M. Ông T2 và bà L3 đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 10/9/2010, Bà Lương Thị Lệ B trình bày ý kiến là đồng ý với tất cả ý kiến chồng bà là ông Ngô Xuân T2. Bà đề nghị tòa giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt bà.

- Tại văn bản có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân nhân dân huyện D ông Nguyễn Bình N trình bày: Ông Ngô Quang K được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00298 cấp ngày 16/4/2010 thửa đất số 12 tờ bản đồ số 40, diện tích: 53,6m²(ODT: 32m²; DGT: 21,6m²). Nguồn gốc sử dụng đất: Đất do cha là ông Ngô Thành L1 và mẹ là Dương Thị C5 nhận sang nhượng của vợ chông ông Bùi K1 ngày 15/5/1967 được UBHC xã D ký; ông Ngô Thành L1 chết năm 2007, đến ngày 22/01/2008 các thành viên trong gia đình ông K họp phân chia di sản thừa kế, biên bản họp phân chia di sản thừa kế được UBND Thị Trấn D chứng thực ngày 18/7/2008; ông K được nhận thừa kế quyền sử dụng thửa đất số 12 tờ bản đồ số 40 và nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận nêu trên.

Ông Ngô Quang K sử dụng thửa đất số 12 tờ bản đồ số 40, thị trấn D, đến ngày 22/7/2014, thì tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Diệp Chí L và bà Ngô Thị Phương T, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C7. Ông Diệp Chí L và bà Ngô Thị Phương T nộp hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận số CH02928 cấp ngày 05/8/2014 thửa đất số 12 tờ bản đồ số 40. Đến thời điểm hiện tại, ông Diệp Chí L và bà Ngô Thị Phương T đang là chủ sử dụng của thửa đất này.

Như vậy, việc UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận số CH00298 cấp ngày 16/4/2010 cho ông Ngô Quang K và Giấy chứng nhận số CH02928 cấp ngày 05/8/2014 cấp cho ông Diệp Chí L và bà Ngô Thị Phương T là đúng quy định. Do đó, ông không đồng ý hủy các Giấy chứng nhận nói trên theo yêu cầu của bà Bùi Thị M là nguyên đơn trong vụ án. Ông Nguyên X vắng mặt tại các phiên tòa.

-Tại bản tự khai ngày 21/2/2023 ông Đoàn Thanh T4 là người làm chứng trình bày:

Nội dung biên bản hòa giải pho to 1997 là đúng như bản gốc. Chính ông là người ghi biên bản. Nội dung hòa giải là làm đường đi chung của hai gia đình. Vợ chồng ông C không nên rào lại và buổi hòa giải có khuyên vợ chồng ông K xin lỗi vợ chồng ông C. Bản gốc biên bản ông Lê Văn Có giữ và ông đã chết nên không biết hiện nay bản gốc ở đâu. Ông cam đoan những lời ông trình bày là đúng sự thật.

-Tại bản tự khai ngày 21/2/2023 ông Phạm Thái C4 là người làm chứng trình bày:

Biên bản được lập ngày 01/5/1997 do tổ hòa giải khóm Đ, thị trấn D lập, bản chính hiện nay ở đâu ông không biết. Nội dung hòa giải là do mâu thuẫn giữa hai gia đình nên gia đình ông C rào lối đi chung. Gia đình ông K không còn lối đi nào khác nên để đảm bảo an ninh trật tự khu vực, tổ hòa giải phân tích và vợ chồng ông C đồng ý mở rào để hai gia đình cùng sử dụng. Các bên đồng ý ký biên bản. Ông cam đoan trình bày là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về những lời đã trình bày.

- Tại phiên toà:

Nguyên đơn bà Bùi Thị M trình bày: Bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Buộc vợ chồng ông Diệp Chí L, bà Ngô Thị Phương T trả lại cho bà lối đi có diện tích 12,36 m² (theo hiện trạng đo vẽ thực tế là 12,9m²) tại thửa số 12 tờ bản đồ số 40, thị trấn D, Khánh Hòa. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ngô Quang K số CH00298 ngày 16/4/2010 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH2928 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/8/2014 cho ông L và bà T.

Bị đơn ông Diệp Chí L, bà Ngô Thị Phương T trình bày: Ông bà vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, không bổ sung ý kiến gì thêm.

- Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C là ông Nguyễn Minh C1 trình bày: Ông C vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, không bổ sung ý kiến gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Khánh H trình bày: Bà H vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày có trong hồ sơ, không bổ sung ý kiến gì thêm.

- Những người làm chứng: Ông Đoàn Thanh T4, ông Phạm Thái Công trình B1 lời làm chứng như nội dung bản tự khai có trong hồ sơ. Không có ý kiến gì khác.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Nguyên đơn bà Bùi Thị M yêu cầu bị đơn bà Ngô Thị Phương T, ông Diệp Chí L phải trả cho bà lối đi có diện tích 12.36m² tại thửa đất số 12, tờ bản đồ 40, thị trấn D. Bà M cho rằng đây là lối đi thuộc quyền sử dụng của gia đình nhà bà có nguồn gốc từ cha mẹ bà chiếm dụng đất công năm 1963 có khai báo chính quyền cũ và cha mẹ bà bán một phần đất cho ông Ngô Thành L1, bà Dương Thị T3. Nhưng con đường hiện nay bà tranh chấp là của cha mẹ bà không bán cho gia đình ông L1, bà T3 nên là đất của bà. Đối với vợ chồng bà Ngô Thị Phương T, ông Diệp Chí L đã sử dụng thửa đất trên cơ sở cha mẹ là ông Ngô Quang K, bà Nguyễn Thị T1 tặng cho. Vợ chồng ông Ngô Quang K được cha mẹ là ông Ngô Thành L1, bà Dương Thị T3 và các anh em thuận phân chia cho thửa đất số 12. Ông K đã đăng ký kê khai, nộp thuế nhà nước theo quy định. Ông đã thực hiện các thủ tục bắt buộc khi kê khai đăng ký quyền dụng đất như: Bản khai nguồn gốc đất, các biên bản xác định ranh giới có chữ ký của chính chồng bà M là ông Nguyễn Văn C đồng thời với tư cách là tổ trưởng tổ dân phố, bà M có khai xác nhận việc ông Bùi K1 có sang nhượng một phần đất phía sau cho ông Ngô Thành L1, bà Dương Thị T3 là đúng sự thật. Ủy ban nhân dân huyện D đã cấp quyền sử dụng hợp pháp cho ông Ngô Quang K đối với thửa đất số 12 vào năm 2010 và tiếp tục cấp lại cho vợ chồng ông Diệp Chí L, bà Ngô Thị Phương T vào năm 2014. Trình tự thủ tục cấp quyền sử dụng thửa đất số 12 là đúng quy định pháp luật. Con đường bà M tranh chấp là diện tích thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 40, thị trấn D. Bà M không có chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc: buộc bị đơn trả lối đi tại thửa đất số 12 tờ bản đố số 40, thị trấn D; và việc yêu cầu hủy 02 giấy chúng nhận số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00298 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 16/4/2010 cho ông Ngô Quang K và giấy chứng nhận số CH2928 Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/8/2014 cho ông Ngô Chí L4, bà Nguyễn Thị Phương T5.

Về án phí và chi phí tố tụng đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng

dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Xét về nội dung vụ án:

Hội đồng xét xử phân tích và đánh giá chứng cứ như sau:

Nguồn gốc lối đi đang tranh chấp theo nguyên đơn trình bày là của ông Bùi K1 (ông K1 là cha ruột của nguyên đơn bà Bùi Thị M) tạm chiếm khoản đất công thổ được UBHC xã D xác nhận ngày 25/11/1963 với diện tích có chiều dài 16m, chiều ngang 14m. Ngày 14/5/1967, ông Bùi K1 có bán cho ông Ngô Thành L1 và bà Dương Thị T3 (là ông bà nội của bị đơn là bà Ngô Thị Phương T) với diện tích 87 thước (dài 14.50m, ngang 6m). Ông Bùi K1 chết năm 1982, bà Hồ Thị L2 chết năm 1968; có 02 con chung là Bùi Thị M, bà Bùi Thị Khánh H. Vợ chồng ông Bùi K1 chết không để lại di chúc hay giấy tờ tặng cho nhà đất này cho cá nhân nào. Vợ chồng bà Bùi Thị M cùng các con của vợ chồng bà có xây dựng mới, cơi nới thêm nhà để ở. Đến hiện nay, gia đình bà M vẫn chưa làm thủ tục kê khai, đăng ký với cơ quan có chức năng để xét cấp quyền sử dụng đất hợp pháp với lý do bà M trình bày là không nắm rõ quy định của pháp luật.

Vợ chồng ông L1, bà T3 đã xây dựng nhà sử dụng sinh sống cùng với các con ngay sau khi mua đất. Vợ chồng ông L1, bà T3 đã phân chia thửa đất mua của ông Bùi Kiệt T6 2 lô cho ông Ngô Xuân T2 và ông Ngô Quang K. Ông Ngô Xuân T2 là người sinh sống chung nhà với vợ chồng ông L1, bà T3 ở phần nhà phía trước (gia đình ông L1, bà T3 dùng làm nhà từ đường). Ông Ngô Quang K được chia phần đất phía sau nhà từ đường. Ông L1, bà T3 chừa một phần đất làm lối đi để gia đình ông K ở phía sau có lối đi ra đường công cộng. Ông K đã xây nhà ở với các con từ năm 1991. Trên lối đi này, gia đình ông T2 có xây 03 tấm đan khoảng 50cm để che của sổ nhà từ đường.

Xét thấy sau khi ông L1, bà T3 mua đất của vợ chồng ông K1, đã xây dựng nhà ở ổn định và phân chia thửa đất ra thành 02 lô cho hai người con. Cả ông T2, ông K đã thực hiện việc kê khai và được nhà nước cấp quyền sử dụng. Sau đó, ông K lại tiếp tục tặng cho vợ chồng ông L4, bà T và được nhà nước cấp quyền sử dụng hợp pháp cho vợ chồng ông L4 vào năm 2014. Việc gia đình ông T2, ông K, bà T, ông L4 được nhà nước cấp quyền sử dụng đất hợp pháp và xây dựng nhà ở ổn định, lâu dài (Nhà ông L1, bà T3 xây trước khi đất nước được giải phóng, nhà ông K xây dựng từ năm 1991). Gia đình bà Bùi Thị M sinh sống liền kề tại thửa đất số 27 như hiện nay nhưng không có ý kiến tranh chấp gì về việc nhà nước cấp quyền sử dụng thửa đất số 12 có gắn liền lối đi này.

So sánh với tờ đơn kê khai với chính quyền cũ của ông Bùi K1 (dài 16m, ngang 14m) với giấy bán đất cho ông L1, bà T3 (dài 14.50m, ngang 6m) và đối chiếu với diện tích hiện nay gia đình bà Bùi Thị M đang sử dụng, thì thấy rằng phần diện tích thực tế gia đình bà Bùi Thị M đang sử dụng lớn hơn rất nhiều (203.6m) so với diện tích lẽ ra còn lại sau khi bán cho ông L1, bà T3. Sau khi mua bán cả hai gia đình đều tiếp tục lấn chiếm đất công. Đồng thời phía ông L1, bà T3 có mua thêm một phần đất của ông Bùi K1 nên diện tích đất thực tế sử dụng của

gia đình ông K1, ông L1, bà T3 đều tăng lên so với diện tích mua bán cũ. Phần đất của gia đình bà M sử dụng không thực hiện nghĩa vụ kê khai đăng ký quyền sử dụng, không được Nhà nước thời kỳ nào cấp quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.

Với tài liệu là biên bản hòa giải năm 1997, về việc giải quyết lối đi giữa gia đình bà M và gia đình ông K thấy rằng: đây là một biên bản pho to, không rõ các chữ viết, không thể đọc được nội dung nào có tình tiết ông K xác định thừa nhận đây là lối đi thuộc quyền sử dụng của gia đình bà M. Đồng thời theo lời trình bày của hai người làm chứng có mặt tại phiên tòa thì biên bản này là do các cán bộ trong tổ dân phố tự hòa giải tại nhà các đương sự về các mâu thuẫn nội bộ trong khóm khi biết có mâu thuẫn xảy ra. Không hòa giải theo đơn khiếu nại của gia đình nào. Bản chính biên bản đã bị thất lạc không thể cung cấp cho Tòa án để đối chiếu xác định.

Qua các biên bản hòa giải tại Ủy ban thị trấn D năm 2020 và 2021 về tranh chấp lối đi này, các bên đương sự đều không hòa giải được. Không biên bản nào có nội dung xác định lối đi này là của gia đình bà M hay không phải là của gia đình ông L4 bà T. Do vậy việc bà M cho rằng biên bản hòa giải năm 1997 là một trong những chứng cứ chứng minh lối đi bà đang tranh chấp là của bà. Điều này hoàn toàn không có cơ sở.

Qua các tài liệu như: Biên bản xác định ranh giới nhà đất ngày 22/5/2003 của ông Ngô Quang K, vợ chồng ông Nguyễn Văn C là người trực tiếp ký đơn xác định ranh giới, không có ý kiến tranh chấp gì; Bản tự kê khai thửa đất của ông Ngô Quang K ngày 05/8/2008 gửi Ủy ban nhân dân thị trấn D xét cấp quyền sử dụng đất, có chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Văn C (là chồng bà Bùi Thị M với tư cách là tổ trưởng tổ dân phố); Giấy cam đoan ngày 30/9/2008 của ông Ngô Quang K về việc bà Dương Thị T3 (mẹ ông K) có mua thêm một phần đất phía sau của ông Bùi K1 không làm giấy tờ mua bán, bà Bùi Thị M là người kí đơn xác nhận về việc mua bán này.

Nguyên đơn bà Bùi Thị M khởi kiện nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ của cá nhân bà hay của cơ quan có thẩm quyền chứng minh lối đi có diện tích 12,36m2 (theo đo vẽ hiện trạng thực tế lối đi có 12,9m²) nằm tại thửa 12, tờ bản đồ số 40, thị trấn D theo đơn khởi kiện là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà M. Quá trình sử dụng đất của gia đình bà Bùi Thị M là tự chiếm nhưng sử dụng liên tục, lâu dài qua hai chế độ Nhà nước nhưng không thực hiện các nghĩa vụ cần thiết, bắt buộc của người sử dụng đất đối với Nhà nước để tạo lập quyền sử dụng hợp pháp. Đây cũng là một lý do tạo nên sự mất ổn định, không rõ ràng trong việc sử dụng đất, tạo nên các mâu thuẫn kéo dài trong các tranh chấp về đất đai.

Với những đánh giá như trên, Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị M về việc hủy Giấy chứng nhận số CH00298 cấp ngày 16/4/2010 và Giấy chứng nhận số CH2928 cấp ngày 05/8/2014 của Ủy ban nhân dân huyện D cấp quyền sử dụng thửa số 12, tờ bản đồ số 40, thị trấn D cho ông Ngô Quang K, ông Diệp Chí L bà Ngô Thị Phương T là không có cơ sở. Quá trình thực hiện trình tự, thủ tục cấp quyền sử dụng thửa đất của Ủy ban nhân dân huyện D là hoàn toàn hợp

pháp, đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu. Vì vậy đối với yêu cầu khởi kiện đòi ông Diệp Chí L, bà Ngô Thị Phương T trả lối đi có diện tích 12,36m² tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 40, thị trấn D cho bà Bùi Thị M cũng không có căn cứ để chấp nhận.

[2] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí tố tụng là 11.477.000đ (bao gồm chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá). Do không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên nguyên đơn phải chịu số tiền chi phí tố tụng nêu trên.

[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Bùi Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tài sản tranh chấp. Cụ thể giá trị đất là 1.404.000đ/m² nên diện tích lối đi là 12.36m² x 1.404.000 đ x 5% = 867.672đ. Tuy nhiên bà Bùi Thị M là người cao tuổi nên căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bà M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 158; Điều 160; Điều 163; Điều 166 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 99, Điều 100 Luật Đất Đai năm 2013;

Căn cứ vào Điều 26; Điều 37; Điều 147; Điều 149; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 227; Điều 228, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị M về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00298 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 16/4/2010 cho ông Ngô Quang K và giấy chứng nhận số CH2928 Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/8/2014 cho ông Diệp Chí L, bà Ngô Thị Phương T.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Bùi Thị M về việc việc yêu cầu ông Diệp Chí L, bà Ngô Thị Phương T phải trả cho bà Bùi Thị M lối đi có diện tích 12,36m² tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 40, thị trấn D, tỉnh Khánh Hòa.
  3. Chi phí tố tụng: Bà Bùi Thị M phải chịu chi phí tố tụng là 11.477.000đ. Bà M đã nộp đủ số tiền này.
  4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Bùi Thị M.
  5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hoà;
  • - Chi cục THADS tỉnh Khánh Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Ẩn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất; và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Bùi Thị M khởi kiện về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" đối với bị đơn ông Diệp Chí L và bà Ngô Thị Phương T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger