Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng, ông Nguyễn Văn Môn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường - Kiểm sát viên

Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 218/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11/7/2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đào Văn H, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 1994 (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà B, xóm Đ, thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 08 tháng 7 năm 2024, bản tự khai ghi ngày 30 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn anh Đào Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lý Thị T kết hôn ngày 14/02/2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện và được gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, chị T về làm dâu và chung sống cùng gia đình anh. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được vài năm thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, dẫn tới xảy ra tranh cãi, khiến cuộc sống chung ngột ngạt; mâu thuẫn trở nên căng thẳng, đỉnh điểm từ tháng 4 năm 2024 do chị T cho rằng anh có quan hệ trai gái bất chính, rồi bỏ bùa ngải khiến chị T bị bệnh, sau đó chị T đã tự ý đưa các con về nhà mẹ đẻ chị T và sống ly thân với anh từ đó đến nay. Khi chị T về nhà mẹ đẻ chị T thì anh và gia đình anh có sang khuyên bảo và đón chị T về chung sống nhưng chị T không đồng ý. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trở nên căng thẳng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

- Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018 và Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020. Khi vợ chồng ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đào Trúc L; cháu Đào Hà P do còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ nên anh đồng ý để chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện anh đang làm công nhân Nhà máy G, thu thập bình quân khoảng 14.000.000đồng đến 16.000.000 đồng một tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc con chung. Anh không đồng ý giao cả 02 con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo yêu cầu của chị T. Trường hợp Toà án căn cứ quy định pháp luật giao 02 con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng/cháu.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Tại bản tự khai ghi ngày 15 tháng 8 năm 2024 bị đơn chị Lý Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H kết hôn ngày 14/02/2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện và được gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, có lúc anh H đánh đập chị. Trước đây chị đã về nhà ngoại sinh sống một thời gian, nhưng sau đó suy nghĩ về con chung, chị lại về sống chung cùng anh H. Nhưng khi về chung sống, vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và tranh cãi, khiến cuộc sống chung ngột ngạt. Đến khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2023 thì chị phát hiện anh H có người phụ nữ khác, không quan tâm gì đến vợ con. Mâu thuẫn trở nên căng thẳng, trầm trọng từ tháng 4 năm 2024, vì thế chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và sống ly thân anh H từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H đề nghị ly hôn, chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh H.

- Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018 và Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020. Khi vợ chồng ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị số tiền là 2.000.000đồng/01 tháng/01 cháu, thời gian cấp dưỡng từ ngày 01 tháng 9 năm 2024 (Dương lịch) cho đến khi cháu L, cháu P đủ 18 tuổi. Chị không đồng ý giao con chung cho anh H nuôi dưỡng vì bản thân anh H không tự chăm lo được cho chính bản thân anh H và cũng không quan tâm đến các con. Trường hợp Tòa án giao cho mỗi vợ chồng nuôi 01 con chung thì chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Đào Hà P vì cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ anh Đào Văn H), bà N trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh H, năm 2017 anh H kết hôn với chị T, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán ở địa phương. Sau khi kết hôn, chị T về chung sống cùng gia đình bà. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, sau đó chị T cho rằng anh H có quan hệ trai gái, làm bùa làm ngải khiến chị T bị bệnh, rồi chị T tự ý dẫn 02 con chung bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống và sống ly thân anh H từ tháng 4 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị T, bà đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung nên người. Trường hợp anh H cương quyết ly hôn, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng anh H, chị T có 02 con chung là Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018 và Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020. Trường hợp anh H, chị T ly hôn, gia đình bà đề nghị Tòa án giao cho anh H, chị T mỗi người được nuôi 01 con chung, để con chung có cuộc sống tốt nhất. Anh H đang làm công ty, thu nhập khoảng 14.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

* Tòa án tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị D (mẹ đẻ chị Lý Thị T), bà D trình bày:

Bà là mẹ đẻ của chị T, năm 2017 chị T kết hôn với anh H, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; anh H và chị T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, chị T về chung sống cùng gia đình chồng. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh H hay đánh đập chị T, gia đình có khuyên bảo và động viên chị T cố gắng chung sống vì con nhưng anh H vẫn không sửa đổi. Đến khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2023 anh H có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ, về nhà không quan tâm đến vợ con. Nay anh H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị T, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật vì gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả.

Về con chung: Vợ chồng anh H, chị T có 02 con chung là cháu Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018 và Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020. Trường hợp anh H, chị T ly hôn, gia đình bà đề nghị Tòa án giao cho 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng vì các cháu đều ở cùng chị T từ nhỏ, bản thân anh H không quan tâm gì đến các cháu. Chị T đang làm công ty, thu nhập khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự đều vắng mặt nên không tiến hành hoà giải được.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đào Văn H được ly hôn chị Lý Thị T
  2. Về con chung: Giao cho anh Đào Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018; giao cho chị Lý Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020. Anh Đào Văn H và chị Lý Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh H, chị T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
  3. Về án phí: Anh Đào Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
  5. Kiến nghị, khắc phục: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đào Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với chị Lý Thị T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Anh Đào Văn H và chị Lý Thị T kết hôn ngày 14/02/2017, kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống, Hội đồng xét xử thấy anh H và chị T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra tranh cãi. Thời gian chung sống chị T đã có lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nhưng sau đó vợ chồng đã hoà giải và tiếp tục về chung sống với nhau. Đến tháng 4 năm 2024 chị T về ở hẳn với bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh H đến nay, chị T và anh H không còn bất kỳ mối quan hệ gì về tình cảm, kinh tế. Nay anh H đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, chị T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh H. Do vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xử cho anh H ly hôn chị T là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2] Về yêu cầu giải quyết con chung của nguyên đơn:

Anh H yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018 và đồng ý để chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020; chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng/con chung, trường hợp Toà án giao cho mỗi người nuôi 01 con chung thì chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Hà P và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy: Anh H và chị T đều có nguyện vọng được nuôi con chung, anh chị có 02 con chung và các cháu đều đã trên 03 tuổi. Anh H, chị T đều có việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định, có gia đình hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung trong thời gian anh chị đi làm. Do vậy, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và đảm bảo các con chung được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất sau khi bố mẹ ly hôn, cần giao cháu Đào Trúc L cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đào Hà P cho chị Lý Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, anh H và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh H và chị T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; chị T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp Toà án giao cho anh H và chị T mỗi người nuôi 01 con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Đào Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh H đã nộp.

[2.6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[3] Về đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Văn H được ly hôn chị Lý Thị T
  2. Về con chung: Giao cho anh Đào Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đào Trúc L, sinh ngày 30/01/2018 đến khi cháu L đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật; giao cho chị Lý Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đào Hà P, sinh ngày 20/10/2020 đến khi cháu P đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Đào Văn H và chị Lý Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung, không ai được cản trở anh H và chị T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
  3. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  4. Về án phí: Anh Đào Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh Đào Văn H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001905 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Đào Văn H và chị Lý Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
  6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKS TP.Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Song Khê, TP.Bắc Giang;
  • (Giấy CNKH số 10/2017, ngày 14/02/2017)
  • - Chi cục THADS TP.Bắc Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger