Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 12 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Trọng Kim.

Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm số 20/2024/QĐ-TĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật Bảo K, sinh năm 2004 tại Bình Thuận;

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha không rõ, mẹ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; chưa có vợ, con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Tại Quyết định số 78/QĐ-XPVPHC ngày 11/9/2023, Nguyễn Nhật Bảo K bị UBND xã Đ, huyện T xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Nguyễn Nhật Bảo K chưa thực hiện đóng phạt.

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

· Bị hại: Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Số B, ĐT. 766, thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng: Phạm Duy V, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Số A, ĐT. 766, thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 28/01/2024, Nguyễn Nhật Bảo K điều khiển xe mô tô biển số 86B8 – 282.96 đi từ xã Đ, huyện Đ đến khu vực xã N, huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu vực đường Đ thuộc thôn C, xã N thì K phát hiện trước nhà của bà Nguyễn Thị Ngọc N có 01 cái xoong bằng nhôm màu trắng, đường kính 60 cm, chiều cao 44 cm để ở vị trí trước cổng, bên trong có ngâm lúa. Nguyễn Nhật Bảo K đổ hết lúa ra và lấy trộm cái nồi. Sau đó, điều khiển xe mô tô đi về lại xã Đ. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến khu vực đường số A thuộc thôn H, xã N thì bị lực lượng Công an xã N đang đi tuần tra phát hiện, đưa về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 cái xoong bằng nhôm màu trắng, đường kính 60 cm, chiều cao 44 cm; 01 xe mô tô biển số 86B8 – 282.96.

Tại Kết luận số 42/KL-HĐĐG ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 cái xoong bằng nhôm màu trắng, đường kính 60cm, chiều cao 44cm có giá trị 50.000 đồng.

Qua xác minh tiền án tiền sự xác định, vào ngày 04/9/2023, Nguyễn Nhật Bảo K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn E, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Bị UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo quyết định số 78/QĐ-XLVPHC ngày 11/9/2023. Nguyễn Nhật Bảo K chưa thực hiện đóng phạt. Đến ngày 28/01/2024, khi chưa được xem là hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì Nguyễn Nhật Bảo K lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn C, xã N.

Bị hại Nguyễn Thị Ngọc N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự.

Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 49/CT-VKSÐL-HS ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K mức án từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng.
  • - Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không buộc bị cáo phải bồi thường.
  • Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với đơn trình báo; biên bản làm việc; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; lời khai của bị hại, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:

[2.1] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, Nguyễn Nhật Bảo K đã lén lút trộm cắp 01 cái xoong nhôm màu trắng, đường kính 60cm, chiều cao 44cm tại thôn C, xã N, huyện Đ, giá trị tài sản chiếm đoạt là 50.000 đồng.

Nguyễn Nhật Bảo K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[2.4] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, giá trị tài sản chiếm đoạt nhỏ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhằm thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.

[3] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 cái xoong bằng nhôm màu trắng, đường kính 60cm, chiều cao 44cm là tài sản của bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bị hại là phù hợp.
  • - 01 xe mô tô biển số 86B8-282.96 là phương tiện Nguyễn Nhật Bảo K sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường về dân sự.

[5] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K 7 (B) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 1 (Một) năm 2 (Hai) tháng, tính từ ngày tuyên án 12/9/2024.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã Đ để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Buộc bị cáo Nguyễn Nhật Bảo K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 12/9/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Cơ quan CSĐT công an huyện Đức Linh;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Đức Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Đức Hạnh;
  • - Lưu VP, HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật Bảo K "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger