|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 5 - 2024 “V/v Ly hôn” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu; Bà Hoàng Thị Thoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Chế Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đào Bảo Đ, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ngõ C đường N, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
Bị đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh ngày 10/7/1983; Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Hiện cư trú tại: F Capstan House the W, B, DY51XL, England (Vương quốc Anh). Địa chỉ nơi làm: 132 H, B, Brierley Hill DY5 3BB, England (Vương quốc Anh), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 17/5/2023, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Đào Bảo Đ trình bày:
Anh và chị Trần Thị Thanh T có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 20/3/2002. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng bàn bạc cho chị T đi nước ngoài làm ăn. Năm 2010 chị T xuất khẩu lao động tại A. Thời gian đầu ở nước ngoài chị T vẫn liên lạc, quan tâm hỏi han chồng con, nhưng được khoảng vài năm đầu, đến năm 2016 thì chị T ít liên lạc. Sau đó chị T không quan tâm đến cuộc sống của hai cha con, mỗi lần liên lạc cũng chỉ có mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do vợ chồng sống xa nhau, thiếu sự quan tâm, tin tưởng nhau về tình cảm, kinh tế. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, nên anh Đ xin được ly hôn với chị Trần Thị Thanh T.
Về con chung: Anh Đào Bảo Đ trình bày vợ chồng có 01 con chung Đào Trần Phương L, sinh ngày 27/9/2002, hiện cháu đã trưởng thành và có gia đình riêng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đào Bảo Đ trình bày vợ chồng không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh ngày 04/3/2024 đối với người thân của bị đơn chị Trần Thị Thanh T. Bà Lê Thị H (mẹ đẻ chị Trần Thị Thanh T) trình bày: Anh Đ và chị T kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn UBND xã B. Bà H cho biết hiện nay chị T đang sinh sống và làm việc tại nước A. Đối với việc ly hôn của vợ chồng anh Đ, chị T và con chung vợ chồng, tài sản chung bà không có ý kiến gì, tùy thuộc vào quyết định của hai vợ chồng và pháp luật giải quyết.
Bị đơn chị Trần Thị Thanh T hiện đang làm việc và cư trú tại nước ngoài: Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã có văn bản số 2895/CV-TAND ngày 07/7/2023 gửi cơ quan có thẩm quyền Đ2 tại A thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình cho chị T, nhưng không được thông tin, ý kiến của chị T đối với yêu cầu của anh Đ. Ngày 04/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình có Công văn số 537/TAND-CV gửi Ban Đ3 (VOV5), yêu cầu đăng tin thông báo cho chị Trần Thị Thanh T đang cư trú tại nước A về việc giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Đào Bảo Đức xin ly hôn chị Trần Thị Thanh T tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và Ban Đ3 (VOV5) đã đăng tin 03 lần trong 03 ngày liên tiếp. Ngày 02/4/2024, Tòa án mỡ phiên tòa lần thứ nhất, nhưng chị T vắng mặt nên hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Đào Bảo Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị Trần Thị Thanh T. Bị đơn chị Trần Thị Thanh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về tố tụng: Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đúng quy định, đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn chị Trần Thị Thanh T vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ các Điều 228 và Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị T; về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đào Bảo Đ, xử cho anh Đ được ly hôn chị Trần Thị Thanh T; Về con chung, tài sản chung: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét. Đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Anh Đào Bảo Đức có đơn yêu cầu xin ly hôn chị Trần Thị Thanh T đang làm ăn, sinh sống tại nước A, theo thông tin cung cấp của Cục Q Bộ C thì chị T đã xuất nhập gần nhất ngày 04/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án có bị đơn là Công dân Việt Nam đang cư trú và làm việc tại nước ngoài. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Trần Thị Thanh T theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp, theo phương thức tống đạt đến cơ quan có thẩm quyền Đ2 tại A quy định tại khoản 1 Điều 474, Điều 475 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng không có kết quả, nên đã thông báo qua kênh hệ phát thanh Ban Đ3 VOV5 và đăng trên cổng thông tin điện tử Tòa án tỉnh Quảng Bình theo khoản 3 Điều 474, nhưng bị đơn không có tin tức gì. Ngày 02/4/2024 bị đơn chị Trần Thị Thanh T vắng mặt lần thứ nhất, nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn chị T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 228, 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Bảo Đ và chị Trần Thị Thanh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình vào ngày 20/3/2002. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Đào Bảo Đ và chị Trần Thị Thanh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung hòa thuận sống hạnh phúc và sinh được một đứa con. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng bàn bạc cho chị T đi nước ngoài làm ăn. Năm 2010 chị T xuất khẩu lao động tại A. Thời gian đầu ở nước ngoài chị T vẫn liên lạc, quan tâm hỏi han chồng con, nhưng được khoảng vài năm đầu. Đến năm 2016 thì chị T ít liên lạc, mỗi lần liên lạc cũng chỉ có những lời nói xúc phạm, không tôn trọng và cải vã nhau, nên không liên lạc với nhau, dẫn đến hai bên không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện tại anh Đ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, không thể hàn gắn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được. Vì vậy, anh Đ kiên quyết xin ly hôn chị Trần Thị Thanh T; còn chị Trần Thị Thanh T đã được gia đình thông báo cho chị biết việc anh Đ xin ly hôn chị tại Tòa án và được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, thông báo qua kênh dành cho người Việt Nam ở nước ngoài của Đ3 VOV5 và niêm yết văn bản tố tụng tại địa phương nơi cư trú của chị T trước khi xuất cảnh và tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của anh Đ. Thể hiện, chị không hề quan tâm gì đến gia đình, chồng con, để mặc anh Đ muốn làm gì thì làm. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận ý kiến của đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Chấp nhận yêu cầu của anh Đ1 Bảo Đức xin được ly hôn chị Trần Thị Thanh T là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, phù hợp tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung, tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí và chi phí tố tụng khác: Anh Đào Bảo Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153; các Điều 228, 469, 474, 475, 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đ1 Bảo Đức được ly hôn chị Trần Thị Thanh T. Hôn nhân của anh Đào Bảo Đ và chị Trần Thị Thanh T chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Đào Bảo Đức phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 31AA/2021/0005463 ngày 12/6/2023 của Cục Thi hành án dân tỉnh Quảng Bình (Anh Đ đã nộp đủ).
- Chi phí tố tụng: Anh Đào Bảo Đức phải chịu 2.705.000 đồng tiền chi phí tố tụng (bao gồm 1.205.000 đồng tiền chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài và 1.500.000 đồng tiền chi phí thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đ Tiếng nói Việt Nam). Số tiến này anh Đ đã nộp đủ và chi phí hết.
- Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn anh Đào Bảo Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Trần Thị Thanh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Dương Viết Hải |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xử cho nguyên đơn anh Đào Bảo Đ được ly hôn chị Trần Thị Thanh T
