Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuyến.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Đoan;

Ông Phạm Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Hoài T, sinh năm 2001, nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Khu E, thị trấn T, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Hoài T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 23/12/2022. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh T1 không quan tâm, chăm lo cho vợ con. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi từ đã sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể đoàn tụ, chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh T1. Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023, hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị Thu nhận nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con. Chị hiện đang làm công nhân, thu nhập ổn định và được sự hỗ trợ của mẹ đẻ trong việc trông nom, chăm sóc con. Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng anh Nguyễn Văn T1 không giao nộp văn bản trình bày quan điểm của mình cho Toà án. Xác minh tại gia đình anh T1, mẹ đẻ anh T1 là bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969, nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng cho biết: Anh T1 và chị T tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2022 và chung sống với vợ chồng bà tại thôn H, xã Q, huyện T. Thời điểm chị T sinh con, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, chị T không quản lý được tài chính, chi tiêu gia đình; trong lúc vợ chồng cãi nhau, do anh T1 nóng tính nên đã có những lời nói xúc phạm chị T. Khoảng tháng 6/2023, chị T tự đưa con về sống với mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023, hiện đang sống cùng chị T. Quan điểm của gia đình bà là mong muốn anh chị đoàn tụ, trường hợp chị T nhất quyết muốn ly hôn, đề nghị Toà án xử cho anh chị ly hôn và giao cháu Nguyễn Phương Bảo H cho anh T1 nuôi dưỡng vì trong thời gian anh chị sống ly thân, gia đình bà vẫn thường xuyên chu cấp tiền cho cháu H. Anh T1 hiện đang làm công nhân, có thu nhập và chỗ ở ổn định;chị T không đảm bảo khả năng nuôi con. Bà T2 xác nhận chữ ký, chữ viết trong đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn mà chị T giao nộp là chữ ký, chữ viết của anh T1.

Tại đơn đề nghị của bà Vũ Thị H1, sinh năm 1973, nơi cư trú: Khu E, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng, là mẹ đẻ của chị Vũ Hoài T trình bày: Xác nhận các mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 như chị T trình bày; gia đình đã động viên hoà giải nhưng không giải quyết được mâu thuẫn giữa anh chị. Bà H1 nhận thấy anh T1 không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn theo quy định của pháp luật và giao cháu Nguyễn Phương Bảo H cho chị T nuôi dưỡng. Bà cam kết đảm bảo chỗ ở ổn định và hỗ trợ chị T trông nom, chăm sóc con.

Xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Vũ Hoài T tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2022 theo quy định của pháp luật. Anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ công việc khi chị T sinh con và nuôi con nhỏ nên xảy ra cãi nhau, vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2023 đến nay. Anh T1 và chị T có 01 con chung là Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023, hiện đang sống cùng chị T. Địa phương đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, trường hợp xử cho anh chị ly hôn, đề nghị giao cháu Nguyễn Phương Bảo H cho chị T nuôi dưỡng vì cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T được ly hôn anh T1. Giao con Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị T và anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Hoài T khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn T1 tại Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng. Bị đơn là anh T1 cư trú tại xã Q, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2, đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T1.

- Về quan hệ hôn nhân:

[3] Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 23/12/2022 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 không giao nộp văn bản trình bày quan điểm cho Toà án, không tham gia phiên họp hoà giải và phiên toà. Tuy nhiên trong đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con do chị T giao nộp có chữ ký của anh Nguyễn Văn T1 đã thể hiện nội dung chị T, anh T1 xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, anh chị thuận tình ly hôn và thoả thuận giao con chung Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung. Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương cũng thể hiện giữa chị T và anh T1 đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn anh T1.

[5] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023. Xét thấy, con chung của anh chị dưới 36 tháng tuổi, hiện đang sống cùng chị T và chị có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con cần căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Phương Bảo H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Hoài T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
  2. Về con chung: Giao con Nguyễn Phương Bảo H, sinh ngày 08/5/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 20/9/2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét về việc cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị T, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009039 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - UBND xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng;
  • (ĐKKH năm 2022);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Xuyến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Đoan

Phạm Văn Tiến

Đỗ Thị Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BALH T-T 56.20.9.2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger