|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 20-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Inh
Ông Nguyễn Văn Triệu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh ngày 15/6/1980, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1940 (chết) và bà Châu Thị B, sinh năm 1947 (chết); vợ: Trương Thị Hồng T, sinh năm 1978; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2024 cho đến nay (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Châu Văn T1, sinh ngày 26/6/1953 (có mặt);
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Thị H, sinh năm 1959 (có đơn xin vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: Luật sư Võ Hùng H1 – Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
Địa chỉ: Số C, đường N (nối dài), khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 24/8/2022 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, ban hành Quyết định số 67/2022/QÐST-DS công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn là bà Châu Thị B, sinh năm 1947, nơi cư trú ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh và bị đơn ông Châu Văn T1, sinh năm 1953, nơi cư trú ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (ông T1 là em ruột bà B) đối với phần thửa đất số 207, tờ bản đồ số 52, diện tích 1.921m² tọa lạc ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nội dung Quyết định Tòa án công nhận sự thoả thuận của các bên điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 207, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh hiện đang đứng tên bà Châu Thị B, trong đó đối với phần diện tích 535m² trong tổng diện tích 1.921m² điều chỉnh sang tên lại cho ông Châu Văn T1. Nguyễn Văn C là con ruột bà B không đồng tình với quyết định của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, cho rằng phần đất có diện tích 535m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ ruột mình là bà B nên C quyết định chặt bỏ các cây dừa và mai mà ông T1 trồng trên phần đất trên.
Khoảng 07 giờ ngày 11/12/2023, C đi từ nhà tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, cầm theo cây cưa và dao đi đến phần đất của ông Châu Văn T1, nằm trong thửa đất số 207, tờ bản đồ số 52 tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tại đây C dùng dao chặt đứt lìa ngang gốc 26 cây dừa xiêm, đồng thời dùng cưa cưa tất cả các nhánh, ngọn của 08 cây mai vàng, cưa ngang gốc của 01 cây mai vàng. Lúc này có Trần Văn V sinh ngày 01/01/1985, nơi cư trú ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh đi cắt cỏ ngang qua, C nhờ V đạp những ngọn dừa vừa chặt xuống bùn. (Trước đó C có bơm bùn vào phần đất này theo biên bản về việc tạm ngưng bơm bùn cát ngày 14/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh). Ông T1 phát hiện sự việc nên đến Công an xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh trình báo sự việc.
Quá trình điều tra xác định 09 cây mai vàng được ông Châu Văn T1 trồng vào năm 2011, cây không trồng chậu và chăm sóc thường xuyên, đối với 26 cây dừa xiêm lùn, được ông T1 trồng vào khoảng giữa năm 2022.
Tại kết luận định giá tài sản số: 17/KL-ĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, tỉnh Trà Vinh kết luận:
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 40cm, cây nguyên thủy, gồm 03 thân lớn, mỗi thân có đường kính là: thân thứ nhất 02cm, thân thứ hai 03cm, thân thứ ba là 03cm; trong đó bị cưa 02 thân, còn lại 01 thân; cây mai có chiều cao khoảng 02 mét, tán rộng khoảng 02 mét. Thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây đã bị chết. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 38,5cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 2,5 mét, tán rộng khoảng 02 mét. Cây bị cưa hết phần nhánh. Thân cây không xù, cây dược trồng vào năm 2011, cây đã chết. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 37cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 1,5 mét, tán rộng khoảng 2,5 mét. Cây bị cưa phần thân, còn lại phần gốc, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây chết. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 40cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 2,8 mét, tán rộng khoảng 2,5 mét. Cây bị cưa hết các nhánh và cưa ngọn, còn lại phần thân, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây mai còn một số tượt non xanh ở thân mọc ra. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 45,5cm, cây nguyên thủy, chiều cao khoảng 2,5 mét, tán rộng khoảng 02 mét. Cây bị cưa hết các nhánh và cưa ngọn, còn lại phần thân, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây mai còn một số tượt non xanh ở thân mọc ra. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 40cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 02 mét, tán rộng khoảng 1,6 mét. Cây bị cưa hết các nhánh và cưa ngọn, còn lại phần thân, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây mai còn một số tượt non xanh ở thân mọc ra. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 32cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 2,2 mét, tán rộng khoảng 2,2 mét. Cây bị cưa hết các nhánh và cưa ngọn, còn lại phần thân, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây mai còn một số tượt non xanh ở thân mọc ra. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 45cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 2,4 mét, tán rộng khoảng 2,5 mét. Cây bị cưa hết các nhánh và cưa ngọn, còn lại phần thân, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây mai còn một số tượt non xanh ở thân mọc ra. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 01 (một) cây mai vàng, chu vi (hoành) gốc là 41cm, cây nguyên thủy, cây một thân, chiều cao khoảng 2,7 mét, tán rộng khoảng 2,6 mét. Cây bị cưa hết các nhánh và cưa ngọn, còn lại phần thân, thân cây không xù, cây được trồng vào năm 2011, cây mai còn một số tượt non xanh ở thân mọc ra. Thành tiền: 1.025.000 đồng.
-
- 26 (hai mươi sáu) cây dừa xiêm lùn, trồng được 1,5 năm, tất cả các cây bị chặt ngang gốc. T2 tiền: 230.000 đồng x 26 cây dừa = 5.980.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản của Châu Văn T1 tại thời điểm bị xâm hại trị giá 15.205.000 đồng.
Tại Công văn số 01 ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, tỉnh Trà Vinh kết luận 09 (chín) cây mai vàng mỗi cây có giá trị thiệt hại tài sản bị hủy hoại là 1.025.000 đồng theo Kết luận định giá số 17 ngày 11/3/2024 (có 03 cây mai đã chết và 06 cây mai bị thiệt hại gần như hoàn toàn, khả năng khắc phục thấp).
Trần Văn V khai nhận có đạp những ngọn dừa và một số nhánh mai mà C chặt xuống bùn, V và C không có bàn bạc trước với nhau về việc chặt dừa và cưa mai của ông T1, hành vi của V không đồng phạm với C nên không xem xét xử lý.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ: 01 (một) cây dao có chiều dài 33cm, có cán và lưỡi bằng kim loại, cán dao dài 11cm, lưỡi dao dài 22cm; 01 (một) cây cưa có chiều dài 51cm, lưỡi cưa bằng kim loại có chiều dài 40cm, cán bằng kim loại và nhựa có chiều dài 11cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Châu Văn T1 yêu cầu Nguyễn Văn C bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại với tổng số tiền 15.205.000 đồng. Nguyễn Văn C đã tự nguyện đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tạm nộp tiền bồi thường thiệt hại với số tiền 15.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-HS ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 217).
Tại phiên tòa hôm nay qua tranh luận công khai, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thực hiện quyền công tố quyết định giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là sau khi phạm tội, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thật thà khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, có thành tích xuất sắc trong sản xuất là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm b,i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Ngoài ra, Vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Bị cáo vì mâu thuẩn với bị hại về tranh chấp đất đai nên mới có hành vi chặt phá tài sản của bị hại. Tuy nhiên do vụ án ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội lần đầu, thiệt hại tài sản đã bồi thường nên thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị xét xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn C: Bị cáo không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa hôm nay lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, phù hợp với biên bản hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 07 giờ, ngày 11/12/2023 tại thửa đất số 207, tờ bản đồ số 52, toạ lạc tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh bị cáo Nguyễn Văn C dùng dao chặt đứt lìa ngang 26 gốc dừa xiêm và dùng cưa cưa tất cả các nhánh, ngọn 08 cây mai vàng, cưa ngang gốc 01 cây mai vàng của ông Châu Văn T1. Hậu quả làm chết 26 cây dừa xiêm và 03 cây mai vàng. Tổng giá trị thiệt hại là 15.205.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T3 đã phạm tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì mâu thuẫn tranh chấp đất đai mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản của người khác, trong khi bị cáo là người có đầy đủ năng lực, thể chất phát triển bình thường nhận thức được hành vi dùng dao chặt dừa xiêm và dùng cưa, cưa nhánh mai là huỷ hoại tài sản của ông T3 nhưng mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C phải được xử lý để giáo dục bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; có thành tích xuất sắc trong sản xuất, được tặng Bằng khen danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2022” theo quy định tại điểm b, i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt pháp luật, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, chưa bị kết án nên không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và giao bị cáo cho địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
[5] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại thỏa thuận: Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt gây ra đối với 09 cây mai và 26 cây dừa xiêm lùn là 15.205.000 đồng (Bị cáo đã nộp 15.000.000 đồng, còn lại 205.000 đồng bị cáo tiếp tục bồi thường). Bị hại đồng ý giao lại 06 cây mai vàng còn sống cho bị cáo nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo di dời 06 cây mai còn sống ra khỏi phần đất của ông T3.
[6] Vật chứng trong vụ án là: Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 cây dao có chiều dài 33 cm, có cán và lưỡi bằng kim loại, cán dao dài 11cm, lưỡi dao dài 22cm.
- 01 cây cưa có chiều dài 51cm, lưỡi cưa bằng kim loại có chiều dài 40cm, cán bằng kim loại và nhựa có chiều dài 11 cm.
[7] Xét quan điểm và đề nghị của vị kiểm sát viên có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Xét lời tranh luận của người bào chữa cho bị cáo có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Bị cáo Nguyễn Văn C chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s, v khoản 1, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại: Bị cáo Nguyễn Văn C đồng ý bồi thường thiệt hại 26 cây dừa xiêm và 09 cây mai cho bị hại Châu Văn T1 với số tiền 15.205.000 đồng (bị cáo đã nộp 15.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự nên bị hại có quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự để nhận số tiền 15.000.000 đồng), bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 205.000 đồng.
Bị hại Châu Văn T1 đồng ý giao lại 06 cây mai còn sống cho bị cáo. Buộc bị cáo di dời 06 cây mai còn sống ra khỏi diện tích đất 535 m² thuộc 01 phần thửa đất số 207, tờ bản đồ số 52, diện tích 1.921m² tọa lạc ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh của ông Châu Văn T1. Thời gian di dời là 30 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý các vật chứng hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tạm giữ như sau:
- Tịch thu tiêu hủy:
01 cây dao có chiều dài 33 cm, có cán và lưỡi bằng kim loại, cán dao dài 11cm, lưỡi dao dài 22cm.
01 cây cưa có chiều dài 51cm, lưỡi cưa bằng kim loại có chiều dài 40cm, cán bằng kim loại và nhựa có chiều dài 11 cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 7 năm 2024)
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 760.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi đương sự cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Sơn Thị Hồng Nhân |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về huỷ hoại tài sản
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Huỷ hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
