Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 56/2024/HS-PT

Ngày: 09/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương;
  • Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương và bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Đỗ Tuấn M, Bùi Tiến Đ, Nguyễn Văn S, Bùi Ngọc T và Nguyễn Huy A do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Đỗ Tuấn M, sinh ngày 08/6/2006;Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Quang T1 và bà Lô Thị X; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”từ ngày 16/11/2023, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
  2. Bùi Tiến Đ, sinh ngày 20/12/2006; Nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Như T2 và bà Bùi Thị H; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/11/2023, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Văn S, sinh ngày 03/12/2006; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị T3; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/11/2023, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
  4. Bùi Ngọc T, sinh ngày 13/08/2005; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T4 và bà Trịnh Minh H1; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/11/2023, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
  5. Nguyễn Huy A, sinh ngày 07/10/2005; Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C, đường Q, tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành T5 và bà Khiếu Thị N; bị cáo chưa vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/11/2023, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Tiến Đ: Ông Bùi Như T2, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1971; đều có nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình (bà H có mặt, ông T2 vắng mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tiến Đ: Bà Đinh Thị Thu T6 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình (Có mặt)

Các bị cáo Hoàng Anh K, Phạm Trọng C, Ngô Trường T7, Vũ Quyết T8, Trần Thanh H2 và Trần Văn K1 kháng cáo, không bị kháng nghị và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Anh K và Nguyễn Thị Thanh T9, sinh năm 2003, trú tại xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình là người yêu của nhau. Ngày 18/9/2023 khi K biết được trước đó T9 bị Nguyễn Xuân T10, sinh năm 2006, trú tại thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình trêu ghẹo nên K đã gọi điện chửi nhau với Nguyễn Xuân T10 rồi hai bên hẹn nhau tối ngày 19/9/2023 gặp nhau ở khu vực quán C3 thuộc địa phận tổ A, phường K, thành phố T để đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 15 giờ ngày 19/9/2023, Hoàng A1 K gọi điện qua M1 cho Phạm Trọng C1, lúc này C1 đang chơi ở nhà Trần Văn K2 cùng với K2, Đoàn Quốc A2, sinh ngày 10/1/2008, trú tại thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình và Trần Minh H3, sinh ngày 18/12/2007, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã V, huyện H, thành phố Hà Nội. Khi gọi điện K có nói cho C1 biết về việc mâu thuẫn giữa K với Nguyễn Xuân T10 và hai bên hẹn gặp để đánh nhau. K bảo C1 cho K mượn hung khí để đi đánh nhau, C1 đồng ý và hỏi K có cần C1 gọi thêm người giúp không. K đồng ý và hẹn C1 20 giờ cùng ngày đến khu vực chân cầu T thuộc địa phận phường B, thành phố T để đi đánh nhau với Nguyễn Xuân T10. Sau khi gọi rủ C1 xong, K gọi điện cho Đỗ Tuấn M nói cho M biết về việc mâu thuẫn giữa K với Nguyễn Xuân T10 và rủ M tối lên thành phố T đi đánh nhau cùng K, M đồng ý. Sau đó K tiếp tục gọi điện cho Vũ Quyết T11 tối ra khu vực Q thuộc địa phận phường L, thành phố T uống nước. Tiếp đó K gọi điện cho Nguyễn Văn S và Bùi Ngọc T bảo S và T đón nhau rồi tối lên thành phố T uống nước. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày K hẹn gặp M rồi cùng nhau đi đến khu vực Quảng trường B, thuộc địa phận phường H, thành phố T để đón thêm người. Sau đó K điều khiển xe Vision màu xanh, còn M điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (không đeo biển kiểm soát) đi sang khu vực Quảng trường B. Tại đây K và M gặp Vũ Quyết T8 và Nguyễn Huy A đang ngồi uống nước. Thấy vậy, K bảo Huy A gửi xe ở quán nước rồi Huy A cùng Vũ Quyết T12 với K có việc. Khi đi K điều khiển xe Vision chở Vũ Quyết T13 Huy A chở M bằng xe Honda Wave màu trắng của M.Khi đi đến khu vực cầu Đ, thuộc địa phận phường L, thành phố T thì xe của K và xe của Huy A đi song song với nhau, K có nói cho Quyết T8, Huy A, M biết về việc bản thân đang có mâu thuẫn với Nguyễn Xuân T10 và đang hẹn đánh nhau vào tối ngày 19/9/2023, sau đó K rủ Quyết T8, Huy A, M về quán bán điện thoại nhà K ở số A, đường L, thành phố T để lấy đao rồi đi đánh nhau với Nguyễn Xuân T10 thì tất cả đều đồng ý. Khi về đến quán điện thoại K đi vào trong nhà lấy 01 thanh đao làm bằng kim loại sáng màu, dài khoảng 70cm ở sau tủ lạnh rồi cuộn vào một chiếc bao mang ra đặt lên yên xe máy Vision. K và Quyết T8 ngồi lên đao, K điều khiển xe chở Quyết T8 đi cùng với Huy A và M. Khi đi đến khu vực đường T đối diện Bệnh viện N1 gặp lực lượng Cảnh sát Cơ động đi tuần lên K đã vất con đao xuống vệ đường. Sau đó K gọi điện cho C1 bảo C1 mang hung khí lên chân cầuThái Bình, C1 đồng ý. Trước đó sau khi nghe điện thoại của K xong,C1 nói với K2, Quốc A2 và H3 về việc K nhờ mình mang theo hung khí đi tham gia đánh nhau cùng. C1 rủ K2, Quốc A2 và H3 đi cùng, tất cả đều đồng ý. Sau đó C1, K2, H3, Quốc A2 đi ra quán bi a ở xã V, huyện V để chơi. Tại đây C1, K2, H3, Quốc A2 gặp Trần Thanh H2, C1 rủ H2 tối lên thành phố T đánh nhau, H2 đồng ý. Tiếp đó C1 gọi điện thoại qua M1 rủ Nguyễn Thế Q, sinh ngày 09/4/2007, trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình và Nguyễn Bằng G, sinh ngày 15/6/2007, trú tại thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình rủ tối đến quán B1 rồi cùng đi lên thành phốThái B để đánh nhau, Q và G đồng ý. Sau đó Q và G đi đến quán B1 gặp C1, K2, Quốc A2, H3, H2. Tại đây C1 có nói cho những người này biết về việc C1 chuẩn bị đi đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn cho người anh xã hội trên thành phố T và C1 rủ cả nhóm đi lên thành phố T đánh nhau hộ bạn của C1, tất cả đều đồng ý. C1 bảo H2, Q, Quốc A2, G đi lên khu vực chân cầu T đợi trước, còn C1, K2, H3 về nhà K2 cất xe máy và đi lấy hung khí. Sau đóGiang, Q, Quốc A2, H2 đi trên 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen (không đeo biển kiểm soát, xe của G do Q điều khiển), còn C1, K2, H3 đi về nhà K2 cất xe máy của bố K2. Sau khi cất xe xongKhang vào nhà cầm theo 01 con dao làm bằng kim loại sáng màu dài khoảng60cm mang ra dắt vào sườn xe máy của H3. Sau đó C1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen của H3 chở K2 và H3 đến khu vực cánh đồng trên đoạn đường S, thuộc địa phận xã V, thành phố T để lấy 02 dao phóng lợn làm bằng kim loại được hàn từ 01 đoạn tuýp sắt dài khoảng 02m gắn 01 con dao bầu làm bằng kim loại đầu dao nhọn (02 dao phóng lợn này của C1 cất ở đó từ trước). Sau khi lấy được 02 dao phóng lợn C1 mang lên cầm ở tay còn H3 điều khiển xe chở K2 ngồi giữa, C1 ngồi ngoài cùng cầm phóng lợn đi đến khu vực chân cầu T.

Trên đường đi Quốc A2 và H2 có gọi điện cho Bùi Tiến Đ bảo Đ đi ra khu vực gần Ủy ban nhân dân xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình để cùng nhóm của Quốc A2 và H2 lên thành phố T đánh nhau với nhóm người ở T, Đ đồng ý. Lúc này Đ đang ngồi uống nước cùng với Ngô Trường T7 ở thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau khi nghe Quốc A2 và H2 rủ lên thành phố T để đánh nhau với nhóm người ở T thì Đ có nói lại cho T7 biết và rủ T7 đi đánh nhau cùng, T7 đồng ý. Sau đó T7 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam của Đ chở Đ đi ra khu vực Ủy ban nhân dân xã S, khi đến đây thì Quốc A2, H2, G và Q đã đợi sẵn. Thấy Đ và T7 đến thì H2 lên xe máy Honda Wave màu cam do T7 điều khiển và ngồi ngoài cùng rồi H2 bảo cả nhóm đi lên khu vực chân cầu T rồi đi đánh nhau, tất cả đều đồng ý. Sau đó, Quốc A2, G, Q đi trên một xe máy Honda Wave đen; T7 điều khiển xe máy Honda Wave màu cam chở Đ và H2.

Lúc này S gọi điện cho K hỏi ở đâu thì K nói đang ở khu vực công viên Ty R, thuộc địa phận tố A, phường B, thành phô Thái Bình, gần cầu T. Sau đó S và T điều khiển xe máy nhãn hiệuHonda Wave màu trắng đến khu vực công viên Ty R đang xây dựng gần cầuThái B gặp K. Tại đây K nói cho S và T biết về việc bản thân đang có mâu thuẫn, xích mích với Nguyễn Xuân T10 và hai bên hẹn tối gặp để đánh nhau.Sau đó K có lấy điện thoại cho S và T xem ảnh củaNguyễn Xuân T10 và hỏi S và T có quen biết Nguyễn Xuân T10 không. Sau khi xem ảnh của Nguyễn Xuân T10 thì S và T bảo không quen biết Nguyễn Xuân T10, sau đó K rủ S và T tý nữa cùng K đi đánh nhau, S và T đồng ý. K bảo S và Thuận đợi vì còn có thêm người đi cùng. Khoảng 20 giờ cùng ngày thì nhóm của C1 đến khu vực công viên Ty R, lúc này nhóm của K có 6 người, gồm: K, Quyết T8,M, Huy A, S và T đi trên 03 xe máy, còn nhóm của C1 lúc này có H3, K2, C1 đi 01 xe máy (cầm theo 02 dao phóng lợn và 01 dao kim loại); G, Quyền, Quốc A2 đi trên 01 xe máy; T7, Đ, Hà đi trên 01 xe máy. Khi thấy nhóm của C1 đến thì K nói và rủ tất cả những người có mặt ở đó "Giờ anh em đi theo tôi, tôi dẫn đường đi đánh nhau với thằng tên T8 người dưới Thái T14 ở khu vực quán cafe gần công viên K", tất cả đều đồng ý, người thì bảo "Đi thôi", người thì bảo "Ok". Lúc này C1 đưa cho H2 01 con dao phóng lợn, còn C1 cầm 01 con dao phóng lợn. Khi điKiên điều khiển xe máy Vision màu xanh chở Quyết T8, Huy A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng chở M đi trước, T đi xe máynhãn hiệu Honda Wave màu trắng chở S, H3 chở K2 và C1 đi trên 1 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang theo 01 dao phóng lợn và 01 dao bằng kim loại, T7 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam chở Đ ngồi giữa và H2 ngồi ngoài cùng cầm theo 01 dao phóng lợn trên tay; Quốc A2, Quyền và G đi 1 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bám phía sau xe của K. Khi đi đến đoạn qua chợ B2 thuộc địa phận phường B, thành phố T thì xe của G gần hết xăng nên Quốc A2 xin C1 50.000 đồng để đi đổ xăng, sau khi nhận tiền của C1, xe của G, Quốc A2đổ xăng không tham gia đi đánh nhau nữa. Sau khi cho tiền Quốc A2 xong thì xe của C1 lại tiếp tục đi theo nhóm của K. Khi đi đến khu vực quán C3 trên đường L thì xe của K cùng với các xe đi theo sau rẽ vào đường số G, thuộc địa phận tổ A, phường K, thành phố T và dừng lại trước cửa quán C3. Lúc này Nguyễn Xuân T10 cầm trên tay 01 chiếc côn làm bằng kim loại đi từ trong quán C3 ra, giữa K và T10 có lời qua tiếng lại, thách thức nhau. Thấy vậy C1 xuống xe hai tay cầm theo dao phóng lợn chạy đến chỗ Nguyễn Xuân T10 đang đứng chém 01 nhát về phía người Nguyễn Xuân T10 nhưng không trúng. Nguyễn Xuân T10 cầm côn vụt lại C1, C1 lùi lại nên không trúng, H2 cầm 01 con dao phóng lợn chạy đến chỗ Nguyễn Xuân T10 chém 01 phát về phía người Nguyễn Xuân T10, Nguyễn Xuân T10 cầm côn vụt lại, H2 lùi về phía sau nên bị ngã ra đường và bị Nguyễn Xuân T10 dùng côn vụt về phía người H2. Lúc này, K2 cầm 01 con dao làm bằng kim loại trên tay trái chạy lại chỗ Nguyễn Xuân T10 đang đánh H2 rồi K2 chém 01 phát về phía người Nguyễn Xuân T10, Xuân T10 cầm côn vụt lại nên K2 quay người chạy ra ngoài. K lao vào dùng tay, chân đấm đá vào người Nguyễn Xuân T10 rồi vật Xuân Tiến xuống đường,H3 lao vào dùng chân phải đạp vào người Nguyễn Xuân T10, T10 dùng chân đạp lại H3, T7 cũng lao vào định đánh Nguyễn Xuân T10 nhưng do một số người đang dùng hung khí đánh Nguyễn Xuân T10 nên T7 không vào đánh được. K2 tiếp tục dùng tay trái cầm dao lao vào chém về phía người Nguyễn Xuân T10, sau đó K2 chạy ra ngoài. C1 tiếp tục cầm theo dao phóng lợn định lao vào chém Nguyễn Xuân T10 thì lúc này Bùi Hoàng Chung D, sinh năm 2006, trú tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (là bạn của Nguyễn Xuân T10) từ trong quán C2 MoRi đi ra cầm theo một chiếc điếu cày chạy đến để đánh C1 nhưng không đánh được, C1 và D vật nhau xuống đường. Nguyễn Xuân T10 dùng côn ghì cổ K lại thì bị K2 cầm dao lao vào chém nhiều phát về phía người Nguyễn Xuân T10, lúc nàyKiên giằng được côn và vụt lại 2-3 phát vào người Nguyễn Xuân T10, Xuân T10 bỏ chạy ra ngoài. Sau đó K2 tiếp tục cầm dao sang chém về phía ngườiDũng, D vùng chạy ra ngoài thì C1 và K2 đuổi theo để đánh, K2 cầm dao chém về phía D, H3 cũng cầm theo dao phóng lợn (do H2 đưa cho) lao vào chém về phía người D. Thời điểm này khi thấy Nguyễn Xuân T10 và Bùi Hoàng Chung D đã bị mọi người dùng hung khí đánh gây thương tích nên Sáng, T, Quyết T8, Huy A, M, Đ đứng ở gần đó nhưng không nhảy vào tham gia đánh nhau mà đừng ngoài quan sát và ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn đợi cả nhóm đánh nhau xong thì phóng xe bỏ chạy. Sau khi thấy Nguyễn Xuân T10 dùng tay ôm đầu đi vào vỉa hè ngay trước cửa quán C3 và thấy có máu chảy ra thì cả nhóm không đánh Nguyễn Xuân T10 và Bùi Hoàng Chung D nữa. Cùng lúc đấy có người hô lên thì tất cả nhảy lên xe máy mà đồng bọn đã nổ máy chờ sẵn rồi cùng phóng xe bỏ chạy. Hậu quả: Nguyễn Xuân T10 bị thương ở vùng trán đỉnh phải, vùng trán phải, vùng trước cổ phải, mặt ngoài đùi phải, mẻ bản ngoài xương trán phải, được cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh N1 từ ngày 19/9/2023 đến ngày 26/9/2023, tỷ lệ tổn thương co thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 15%; Bùi Hoàng Chung D vị thương tích ở vùng cẳng tay phải, điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh N1 vào ngày 19/9/2023, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 02%.

Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

  • Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51 (Áp dụng Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Tuấn M, Bùi Tiến Đ, Nguyễn Văn S, Nguyễn Huy A); Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 47; Điều 48; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
  • Tuyên bố các bị cáo Đỗ Tuấn M, Bùi Tiến Đ, Nguyễn Văn S, Bùi Ngọc T, Nguyễn Huy A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 02 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  • Xử phạt các bị cáo Đỗ Tuấn M, Bùi Tiến Đ, Nguyễn Văn S và Nguyễn Huy A mỗi bị cáo 01 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, quyết định hình phạt đối với các bị cáo Hoàng Anh K, Phạm Trọng C1, Ngô Trường T7, Vũ Quyết T8, Trần Thanh H2, Trần Văn K2. quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Bùi Tiến Đ, Đỗ Tuấn M, Bùi Ngọc T, Nguyễn Văn S và Nguyễn Huy A đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm. Ngày 19/9/2023, mặc dù không quen biết hay có mâu thuẫn gì với các bị hại nhưng vì nghe theo sự rủ rê của Hoàng Anh K, các bị cáo Đỗ Tuấn M, Nguyễn Huy A, Nguyễn Văn S, Bùi Ngọc T và Bùi Tiến Đ đã có hành vi tham gia gây thương tích cho anh Nguyễn Xuân T10 và Bùi Hoàng Chung D, khiến anh T10 bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 15%, anh D bị tổn thương cơ thể 02%. Đây là vụ án đồng phạm, có người khởi xướng, rủ rê, có sự thống nhất ý chí giữa tất cả các bị cáo. Các bị cáo M, T, S, Huy A, Đ đều không trực tiếp tham gia đánh gây thương tích cho anh T10, anh D nhưng với vai trò tiếp thêm ý chí, là những người đứng ngoài nổ xe máy chờ khi các đồng phạm đánh gây thương tích xong rồi cùng lên xe bỏ chạy, Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a; i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại, bị hại có một phần lỗi và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt với mỗi bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên cũng thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, riêng các bị cáo M, Đ, S, Huy A phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Từ những nhận định kể trên Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 43/2024/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo.
  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47; Điều 48; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Ngọc T 02 năm 02 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 04 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Bùi Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 47; Điều 48; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Đỗ Tuấn M, Bùi Tiến Đ, Nguyễn Văn S, Nguyễn Huy A mỗi bị cáo 01 năm 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách mỗi bị cáo 03 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Đỗ Tuấn M cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Bùi Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Nguyễn Huy A cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TA, VKS, CA, THADS tp. Thái Bình;
  • - UBND xã Thụy Bình;
  • - UBND xã Vũ Vinh;
  • - UBND xã Hòa Bình;
  • - UBND xã Thụy Liên;
  • - UBND phường Tiền Phong;
  • - Bị cáo kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 56/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tuấn M và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger