|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 56/2024/DS-ST
Ngày: 19 - 7 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Mai Thương.
- 2. Ông Phạm Xuân Trường.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 179/2024/TLST-DS, ngày 06 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định thay đổi Thư ký Toà án số 58/2024/QĐ-TĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Tổ F, khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Huỳnh Lê Mỹ D, sinh năm 2000 (Văn bản ủy quyền ngày 16/4/2024)
Nơi cư trú: Số E, đường H, khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
-
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: Số E, đường T, khu phố D, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Phan Đình T, sinh năm 1965.
- Nơi cư trú: Tổ F, khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Huỳnh Lê Mỹ D, sinh năm 2000 (Văn bản ủy quyền ngày 16/4/2024)
Nơi cư trú: Số E, đường H, khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận
+ Ông Nguyễn Ngọc R, sinh năm 1961.
Nơi cư trú: Số E, đường T, khu phố D, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt chị D và bà H; vắng mặt ông R đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Đình T là chị Huỳnh Lê Mỹ D trình bày: Vào ngày 09/12/2021, bà Nguyễn Thị L có cho bà Nguyễn Thị H vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng. Bà H hẹn cuối năm 2022 sẽ trả hết số nợ vay. Khi vay tiền, thì bà H nói vay để có vốn thu mua tiêu, làm ăn trong gia đình nhưng việc bà H sử dụng số tiền vay vào mục đích gì thì bà L không biết. Khi vay tiền cũng không có mặt ông Nguyễn Ngọc R. Bà yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Ngọc R phải trả cho bà Nguyễn Thị L và ông Phan Đình T số tiền nợ vay 25.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày vay tiền 09/12/2021 đến nay.
Tại phiên toà bà D trình bày: Nguồn gốc số tiền vay 25.000.000 đồng là trước đây bà H vay của bà L số tiền 40.000.000 đồng, sau đó trả được 15.000.000 đồng và đến ngày 09/12/2021 viết lại giấy vay tiền 25.000.000 đồng.
* Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Trước đây, bà có vay của bà Nguyễn Thị L số tiền 40.000.000 đồng, thỏa thuận miệng lãi suất là 4%/tháng. Đến ngày 09/12/2021, bà có trả cho bà L số tiền 15.000.000 đồng và viết lại giấy mượn tiền với số tiền mượn là 25.000.000 đồng và hứa đến cuối năm 2022 sẽ trả hết số nợ trên. Số tiền vay của bà L là để trả lãi, trả nợ cho các khoản nợ riêng của bà, khi vay thì chồng bà là ông Nguyễn Ngọc R không biết và cũng không liên quan đến số tiền nợ trên. Từ ngày viết giấy mượn tiền 09/12/2021 đến nay, bà có trả cho bà L một số tiền lãi nhưng bà L không có viết cho bà bất kỳ giấy tờ nào nên bà không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc trả lãi của mình. Bà chỉ đồng ý trả cho vợ chồng bà L số tiền nợ gốc 25.000.000 đồng, về tiền lãi thì bà không đồng ý trả. Việc bà vay tiền thì chồng bà không biết và bà cũng không sử dụng số tiền vay vào cho nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Tại phiên toà, bà H trình bày: Số tiền vay bà dùng để làm từ thiện, giúp người khác trong hoàn cảnh khó khăn. Bà có trả cho bà L số tiền 2.000.000 đồng nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R trình bày: Việc bà H vay tiền của bà L như thế nào thì ông không biết. Khi các bên vay tiền thì không có ông tham gia, bà H sử dụng số tiền vay vào mục đích gì thì ông cũng không biết. Ông không liên quan đến số nợ trên nên không đồng ý trả số tiền nợ cho vợ chồng bà L.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng không hòa giải được.
* Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị L và ông Phan Đình T số tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày vay tiền 09/12/2021 đến nay. Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Nguyễn Ngọc R phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Đình T là chị Huỳnh Lê Mỹ D và bị đơn bà Nguyễn Thị H, riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp; phía bị đơn cũng thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật
Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Trước đây, bà Nguyễn Thị L có cho bà Nguyễn Thị H vay số tiền 40.000.000 đồng, khi vay các bên có thoả thuận miệng về lãi suất, sau đó bà H có trả được 15.000.000 đồng tiền nợ vay và còn nợ lại số tiền 25.000.000 đồng. Vào ngày 09/12/2021, bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị H viết lại giấy mượn tiền với số tiền vay là 25.000.000 đồng. Từ ngay viết giấy tới nay, bà H chưa trả cho bà L tiền nợ vay.
Bà H khai đã trả cho bà L một số tiền lãi nhưng bà không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ nên không được chấp nhận.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.
[2.2.1] Về tiền nợ vay:
Số tiền nợ vay là 25.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ vay 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2.2] Về tiền lãi:
Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 09/12/2021, lời khai của các đương sự, xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự.
Đối với mức lãi suất do nguyên đơn yêu cầu 0,83%/tháng là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận. Tiền lãi trên nợ gốc được xác định như sau:
Từ ngày 09/12/2021 đến ngày 19/7/2024 là 31 tháng 10 ngày x 25.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 6.501.000 đồng.
[2.2.3] Tổng số tiền bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị L và ông Phan Đình T là 31.501.000 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 25.000.000 đồng và tiền lãi là 6.501.000 đồng).
[3] Về nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R:
Khi vay tiền, không có sự tham gia của ông Nguyễn Ngọc R; nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị đơn sử dụng số tiền vay vào nhu cầu thiết yếu của gia đình. Bị đơn cũng không thừa nhận sử dụng số tiền vay vào nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ, chồng phải có nghĩa vụ liên đới trong trường hợp vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy
định: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”.
Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp,”. Xét thấy, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh bị đơn sử dụng số tiền vay vào nhu cầu thiết yếu của gia đình nên yêu cầu của nguyên đơn buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc R phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ là không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DSST.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự; Khoản 20 Điều 3, Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1/ Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Ngọc R phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ.
2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị L và ông Phan Đình T số tiền 31.501.000 đồng (Ba mươi mốt triệu năm trăm lẻ một nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 25.000.000 đồng và tiền lãi là 6.501.000 đồng.
Kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3/ Về án phí DSST:
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 1.575.000 đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả 1.042.000 đồng (Một triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004453 ngày 06/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 56/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thị H
